Giáo xứ Tân Thái Sơn  - Giáo Hạt Tân Sơn Nhì - Giáo Phận Sài Gòn - LM chính xứ: Phêrô Nguyễn Quốc Tuý - LM Phó xứ: Phaolô Võ Phương Tiến - "KHÔNG CÓ TÌNH THƯƠNG NÀO CAO CẢ HƠN TÌNH THƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ HY SINH TÍNH MẠNG VÌ BẠN HỮU CỦA MÌNH." (Ga:15,13) Ave Ma-ri-a - "Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa." (Lc 11, 28) - Quản Trị Trang Web: Giuse Trần Đình Cánh.

Các Bài Chú Giải và Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm A

Các Bài Chú Giải và Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm A 

Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng
Chúa Nhật XXVII thường niên – năm A
Lời Chúa: 
Is 5, 1-7; Tv 79, 9 và 12. 13-14. 15-16. 19-20; Pl 4, 6-9; Mt 21, 33-43
*************

MỤC LỤC
1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: Dụ ngôn những tá điền sát nhân
2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Inhaxiô Hồ Thông
3. Vườn nho giao ước (JM. Lam Thy ĐVD.)
4. Chúa Giêsu đứng trên mọi quyền lực (P. Trần Đình Phan Tiến)
5. Vườn nho
6. Thợ vườn nho
7. Tá điền và vườn nho
8. Câu chuyện vườn nho, câu chuyện đời ta (ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)
9. Chúng ta được trao phó canh tác vườn nho Thiên Chúa (An Phong)
10. Người thợ làm vườn nho
11. Từ vườn nho đến các tá điền: Hãy là chính mình (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
12. Có một chủ vườn kia
13. Hành động và phản ứng
14. Chủ vườn nho
15. Làm việc
16. Tá điền và vườn nho
17. Được và mất
18. Tá điền vườn nho

19Đón nhận Đức Giêsu: Viên đá góc ban ơn cứu độ (Lm. Đan Vinh)
20. Dù con người bất trung, Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

 

A. BẢN VĂN

Bài đọc I (Is 5, 1-7)

Tôi sẽ ca tặng người yêu bài hát của cô bác tôi về vườn nho.

Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho, nhưng nó lại sinh toàn nho dại.

Vậy giờ đây, hỡi dân cư Giêrusalem và người Giuđa, hãy luận xét giữa ta và vườn nho ta. Nào còn việc gì phải làm cho vườn nho ta mà ta đã không làm? Sao ta trông mong nó sinh quả nho, mà nó lại sinh quả nho dại!

Giờ đây ta tỏ bày cho các ngươi biết ta sẽ làm gì đối với vườn nho ta: Ta sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó. Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích. Ta trông mong nó thực hành điều chính trực, nhưng đây toàn sự gian ác. Ta trông mong nó thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan.

Bài đọc II (Pl 4, 6-9)

Anh em thân mến, anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.

Vả lại, hỡi anh em, những gì là chân thật, trong sạch, công chính, là thánh thiện, đáng yêu chuộng, danh thơm tiếng tốt, là nhân đức, là luật pháp đáng khen, thì anh em hãy tưởng nghĩ những sự ấy. Những điều anh em đã học biết, đã lãnh nhận, đã nghe và đã thấy nơi tôi, anh em hãy đem những điều đó ra thực hành, thì Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em.

Tin Mừng (Mt 21, 33-43)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh, đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: “Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?” Các ông trả lời, “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi”.

Chúa Giêsu phán: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc. Ðó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta!” Bởi vậy, Tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”.

[Mục Lục]

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM

Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN

1. Ngữ cảnh

Tác giả Mátthêu đặt bài dụ ngôn này giữa dụ ngôn Hai người con (Mt 21,28-32) và dụ ngônBữa tiệc hoàng gia (Mt 22,1-14), trong ngữ cảnh lịch sử và văn chương là các xung đột ngày càng trầm trọng giữa Đức Giêsu và các thủ lãnh dân Israel (x. các chương Mt 21, 22 và 23). Sau khi đã nhấn mạnh rằng những người thu thuế và các cô gái điếm, giống như người con bướng bỉnh rồi ngoan ngoãn trong bài dụ ngôn, đã đón tiếp ý muốn của Chúa Cha được biểu lộ trong lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả và của Đức Giêsu (trong khi những người Pharisêu và các thủ lãnh của dân đã từ khước), Đức Giêsu xác định trong một dụ ngôn thứ hai thế nào là tiếp đón Người Con. Người lấy lại đề tài “nói” và “làm” (cc. 28-31) và đề tài cây vả không ra trái (cc. 19-20) để kêu gọi các thủ lãnh thêm một lần nữa, bằng cách làm cho họ hiểu rằng giờ phút cung cấp hoa trái (cc. 34 và 41) đã đến, giờ phút quyết liệt khi mà Thiên Chúa yêu cầu cây nho của Ngài tính sổ.

2. Bố cục

Bài này có thể chia làm hai phần:

1) Dụ ngôn những tá điền sát nhân: Hành động của dân Chúa (21,33-41):

- giới thiệu hoàn cảnh: Vườn nho của ông chủ (c. 33),

- các tá điền sát nhân (cc. 34-39):

. giết các đầy tớ (cc. 34-36),

. giết người con (cc. 37-39).

- cách xử sự của ông chủ (cc. 40-41);

2) Kết luận từ dụ ngôn: Hành động của Thiên Chúa (21,42-43):

- đối với Đức Kitô (c. 42),

- đối với dân Chúa (c. 43).

3. Vài điểm chú giải

- Chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho (33): Ở đây cũng như trong Is 5, tác giả liệt kê ra những công việc ông chủ làm cho vườn nho nhằm nêu bật tình yêu cũng như quyền tuyệt đối của ông trên vườn nho. Nó thuộc về ông bởi vì ông đã tạo ra nó từ đầu. Tháp canh là để bảo vệ nó, nhất là vào mùa hái trái. Bồn đạp nho là để trích chất cốt của nho. Các chi tiết nêu rõ sự tương phản giữa tình yêu của ông chủ đối với vườn nho của ông và sự độc ác của các tá điền không cho ông hưởng hoa trái của công sức chăm sóc của ông.

Gần đến mùa hái nho (34): Mùa hái nho có lẽ gợi đến thời điểm quyết liệt, lúc mà Thiên Chúa yêu cầu dân Ngài phải tính sổ. Nếu dịch sát câu này là “Khi mùa hái nho đã đến gần”, chúng ta gặp lại cùng một động từ như Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu đã dùng (x. 3,2 và 4,17). Vậy dường như Mt muốn ám chỉ rằng thời điểm tính sổ trùng vào thời điểm Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu xuất hiện. Do lời rao giảng của hai vị sứ giả đó của Thiên Chúa, bây giờ Israel phải “sinh hoa quả xứng với lòng sám hối” (3,8).

Bọn tá điền … đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ (35): Có một sự tiệm tiến trong cách sử dụng các động từ: quan hệ giữa ông chủ và các tá điền các lúc càng trở nên xấu hơn. Việc ném đá các ngôn sứ là một đề tài truyền thống trong Do Thái giáo và Kitô giáo tiên khởi (x. 2 Sb 24,21; Dt 11,37; nhất là Mt 23,37; Lc 13,34).

Ông lại sai (36): Nếu tác giả Mt nói đến lần sai phái thứ hai này có lẽ vì ông muốn ám chỉ đến việc truyền thống Do Thái phân chia các ngôn sứ ra các ngôn sứ trước và các ngôn sứ sau.

Sau cùng (37): Công thức này có ý nói rằng đối với các tá điền, đây là cơ hội cuối cùng để họ có thể hoán cải.

Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi (38): Theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, các tá điền tức khắc nhận ra người thừa tự (Dt 1,2; Rm 8,17). Tội ác của họ không phải là hậu quả của một sự lầm lẫn bi đát, hoặc của một tình trạng thiếu lòng tin nơi Vị sứ giả: Họ hành động với ý thức hoàn toàn về mức độ trầm trọng của hoàn cảnh. Họ đã từ khước Thiên Chúa nơi bản thân Đấng Ngài sai đến.

Quẳng ra bên ngoài vườn nho (39): Chi tiết này ám chỉ đến việc Đức Giêsu bị giết chết bên ngoài tường thành Giêrusalem.

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên … (42): “Loại bỏ” (apodokimazô) là một động từ chuyên môn để nói về việc một người có thẩm quyền tuyên bố một đồng bạc là vô giá trị vì bị coi là giả mạo. “Lại trở nên” là một thái bị động thay tên Thiên Chúa, nên có nghĩa là: “Thiên Chúa đã làm cho lại trở nên”. Đây là một hành vi tuyệt vời của Thiên Chúa toàn năng.

một dân (43): Từ ngữ này ở số đơn nên không thể có nghĩa là “các dân nước” tức là “các dân ngoại”, nhưng có nghĩa là một tập thể đang được thành lập và phát triển: ta có thể nghĩ đến “Dân thánh” trong Xh 19,6. Dân thánh được tạo thành bởi tất cả những ai mang hoa trái của Nước Trời, nghĩa là những người đón tiếp Người Con và làm thành dân mới của Thiên Chúa quanh Người Con ấy (x. Rm 9,25; 1 Pr 2,10).

4. Ý nghĩa của bản văn

Đức Giêsu kể cho các đối thủ của Người một câu truyện khác.

* Dụ ngôn những tá điền sát nhân: Hành động của dân Chúa (33-41)

Trong một bài ca với giọng cảm động, ngôn sứ Isaia đã ví dân Israel với một vườn nho được Thiên Chúa chăm sóc, bảo vệ. Ngài hy vọng sẽ nhận được hoa quả ngon ngọt: “Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại. Vậy bây giờ, dân Giêrusalem và người Giuđa hỡi, xin phân xử đôi đàng giữ tôi với vườn nho, có làm gì hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?… Vậy bây giờ tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi: hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo” (Is 5,2b.3.4a.5). Rào giậu (x. Tv 80,13-14) là để bảo vệ vườn nho khỏi bị thú hoang và trộm phá hoại. Bồn đạp nho thường được đục khoét vào đá, gồm có hai chậu, một chậu chứa các chùm nho để nghiền, chậu kia hứng nước cốt nho chảy ra. Tháp canh là để đuổi chim và trộm cướp. Chủ vườn nho đã làm tất cả những gì cần cho vườn nho.

Các câu đầu của bài dụ ngôn Đức Giêsu kể được trực tiếp vay mượn từ bản văn trên. Nhưng bài ca của Isaia chỉ là một khởi điểm mà thôi, câu truyện được kể trong dụ ngôn được triển khai theo một chiều hướng khác. Ý tưởng căn bản vẫn còn đó: Israel không sinh hoa trái nên đã đáng bị kết án. Nhưng nay bài dụ ngôn đi sang một chiều hướng mới do chi tiết vườn nho được giao cho các tá điền canh tác: Đức Giêsu kể một truyện mới về “vườn nho cũ”. Trong bài ca Isaia, người chủ vườn nho (Thiên Chúa) và vườn nho (Israel) liên kết mật thiết với nhau: Thiên Chúa trồng vườn nho, Ngài thất vọng về kết quả nên đe dọa phá hủy. Trong bài dụ ngôn, vườn nho không phải là Israel mà là Nước Thiên Chúa (c. 43). Hình ảnh vườn nho-Nước Thiên Chúa đã được Thiên Chúa cưu mang trong quá khứ của Israel, nghĩa là Thiên Chúa đã muốn giao phó Nước Thiên Chúa (= kế hoạch cứu độ và ân sủng của Ngài được tượng trưng bằng giao ước) cho Israel lịch sử, nhưng Israel đã thất trung với chương trình cứu độ này khi vi phạm giao ước đã được các ngôn sứ thay nhau đến nhắc lại.

Dân Israel đã không nghe các sứ giả của Thiên Chúa, họ đã cứng lòng lại (x. Gr 7,24-26). Sau này, Đức Giêsu cũng nối tiếp chuỗi những lời kể ra sự bất phục tùng của dân Thiên Chúa (x. Mt 23,34-36). Và nếu họ đã không nghe các ngôn sứ, họ cũng sẽ chẳng nghe Con Thiên Chúa. Ngược lại, họ đối xử với Người Con còn độc ác hơn nữa, bởi vì họ không chỉ bắt Người Con ấy mà giết đi như đã giết các đầy tớ, họ còn quẳng Người ra bên ngoài vườn nho để xử Người cách ô nhục nhất: họ đã đóng đinh Người.

Vườn nho đã được giao cho các tá điền để họ mang lại hoa trái. Các hoa trái của vườn nho trong dụ ngôn là những hoa trái của Nước Thiên Chúa trong thực tế. Các tá điền là “dân Thiên Chúa”. Dân đầu đã thất bại, họ đã không mang lại hoa trái, họ đã làm cho ông chủ hoàn toàn thất vọng. Một dân khác sẽ được nhận lấy vườn nho, nghĩa là Nước Thiên Chúa; dân này sẽ không làm cho ông chủ phải thất vọng, họ sẽ mang lại hoa trái mà dâng cho Thiên Chúa. Các hoa trái ấy là sự công chính vượt xa sự công chính của các kinh sư và Pharisêu (Mt 5,20).

Câu 40 bắt đầu với một quy chiếu về thời gian. Ông chủ trở về; chúng ta sắp được thấy chuyện gì xảy ra. Tác giả lại dùng Isaia (5,3-4) mà thách thức các thính giả bằng một câu hỏi để phán đoán. Câu trả thật rõ ràng: “Ông sẽ tru diệt bọn chúng” (c. 41). Vườn nho sẽ được giao cho những tá điền khác. Các nhà lãnh đạo Israel vừa tuyên bố chính án quyết trên mình.

* Kết luận từ dụ ngôn: Hành động của Thiên Chúa (42-43)

Sự từ khước của dân cũ đã tới cao điểm khi họ giết Người Con; còn dân mới sẽ được thiết lập trong máu Đức Giêsu, máu Giao ước (26,28). Đức Giêsu hỏi bằng giọng châm biếm: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao?” (c. 42). Dĩ nhiên các đối thủ của Người phải biết nhờ Kinh Thánh. Nhưng nay Kinh Thánh trở thành một tòa án phúc thẩm trong cuộc tranh luận với các nhà lãnh đạo Do Thái. Các Kitô hữu xác tín rằng Kinh Thánh làm chứng về Đức Kitô. Câu trích kia lấy từ Tv 117,22-23 theo Bản LXX nói một cách bóng bảy về một tảng đá: tảng đá bị loại vì vô giá trị lại trở thành đá tảng góc tường nâng đỡ cả tòa nhà. Giáo Hội thấy đây là hình ảnh báo trước điều huyền diệu Thiên Chúa thực hiện: Đấng Mêsia bị loại trừ đã trở nên Đức Chúa khi sống lại từ trong kẻ chết (Cv 4,11; 1 Pr 2,7).

Trên cái nền đen tối này với việc kết án Israel, lời Thiên Chúa hứa vẫn nổi lên rạng rỡ:kế hoạch Thiên Chúa muốn là nhân loại mang hoa trái không hề bị vĩnh viễn thất bại với sự suy thoái của Israel. Một dân mới sẽ được thành lập, họ sẽ được giao phó Nước Thiên Chúa cho và họ sẽ mang hoa trái. Nhưng các hoa trái này sẽ không phải là kết quả của nỗ lực con người, mà sẽ là “hoa quả của Thần Khí” (Gl 5,22).

+ Kết luận

Dụ ngôn Những tá điền sát nhân này đã có trong TM Mc, trong đó vườn nho là biểu tượng truyền thống để gọi Israel, nên câu truyện có ý nghĩa biểu tượng (Mc 12,1-12; Mt 21,33-43; x. Is 5,1-10). Tác giả Mt đã nêu bật khía cạnh lịch sử cứu độ của câu truyện này. Thờikairos, thời phán xét, đã gần kề (21,34.40). Các nhà lãnh đạo Do Thái hiểu rõ là Đức Giêsu nói về họ.

Dụ ngôn này cho chúng ta hiểu rõ cách tác giả giải thích sự chống đối đang nhắm vào Đức Giêsu. Sự loại trừ Người phải chịu ở trong cùng chiều hướng với tình cảnh của các ngôn sứ. Bởi vì Đức Giêsu là sứ giả cuối cùng và cao quý nhất của Thiên Chúa, vì là Con Thiên Chúa, hậu quả của việc loại trừ Người sẽ rất tàn khốc. Đối với tác giả, xác tín này đã được xác nhận trong những cuộc tàn phá Giêrusalem vào năm 70. Ngài cũng thấy được các dấu vết của chương trình cứu độ của Thiên Chúa ngay giữa lòng bi kịch: Nếu Israel đã bỏ mất cơ hội trả lời lại sứ điệp của Thiên Chúa mời gọi hoán cải để được cứu độ, Dân ngoại sẽ đáp trả. Vì thế vai trò ưu tuyển của các tá điền sẽ được chuyển cho những người khác, những người này sẽ làm sản sinh hoa trái dồi dào.

Vị trí của các Kitô hữu là ở đó. Sứ điệp của Thiên Chúa hôm nay đang được gửi đến cho họ, và Thiên Chúa cũng đang chờ đợi họ đáp lại.

5. Gợi ý suy niệm

1. Thiên Chúa đã tạo dựng loài người với tình yêu thương âu yếm sâu xa. Trong nhân loại này, Ngài đã chọn ra một nhóm người mang những lời Ngài hứa, họ có nhiệm vụ làm cho Ngài hiện diện giữa nhân loại. Ngài đã ân cần nuôi dưỡng, chăm sóc họ, và sai họ đi làm chứng về tình thương của Ngài. Đáng tiếc, thay vì sản sinh những hoa quả ngon ngọt của lòng trung thành và của sự bình an, họ đã tạo ra sự hận thù, ghen ghét, bạo lực.

2. Thiên Chúa tiếp tục phái các sứ giả đến: Ngài ân cần và kiên trì tìm cách cứu lấy dân Ngài. “Dân” đây cũng có thể là một tập thể như giáo xứ, gia đình hay những cá nhân (mỗi người trong chúng ta). Trong thực tế, Thiên Chúa chỉ dừng lại khi cái chết đến đóng ấn trên một cuộc đời vĩnh viễn từ khước tình yêu của Ngài.

3. Tội nặng nhất của các tá điền là từ chối đón tiếp các ngôn sứ và Người Con mà Chúa Cha sai phái đến. Tuy nhiên, Đức Giêsu cho biết tội ấy bắt nguồn từ chỗ họ muốn chiếm lấy vườn nho. Mỗi lần chúng ta muốn coi Nước Thiên Chúa là chuyện riêng của chúng ta, mỗi lần chúng ta nhắm một thành công tưởng như là để phụng sự Thiên Chúa nhưng thật ra là để thỏa mãn nhu cầu chúng ta là tỏ ra mình quan trọng, là tạo một ảnh hưởng, khi đó chúng ta đang chiếm hữu vườn nho của Thiên Chúa, bởi vì thật ra chúng ta đang phục vụ chính mình dưới cái vỏ bề ngoài là sự tận tụy và sự đạo đức.

4. Không có gì có thể ngăn chặn hành động uy quyền của Thiên Chúa trong thế giới. Bởi vì Thiên Chúa đủ quyền năng để đưa mọi chuyện (kể cả điều ác) vào việc thực hiện các kế hoạch của Ngài. Trong đời sống chúng ta, nếu chúng ta sẵn sàng dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì làm nên con người chúng ta, tất cả những gì chúng ta có, Thiên Chúa sẽ có thể làm những điều kỳ diệu xuyên qua chúng ta. Trong lịch sử các thánh, Thiên Chúa đã tỏ ra thích dùng những giới hạn của con người để thực hiện những chương trình vĩ đại trong Giáo Hội.

[Mục Lục]

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Inhaxiô Hồ Thông

Is 5: 1-7; Tv 80 (79): 9, 12-16, 19-20; Pl 4: 6-9; Mt 21: 33-43

Tin Mừng thuật lại dụ ngôn về “các tá điền gian ác”. Sau khi đã đối xử tàn ác với các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng ra tay sát hại cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.

Cách nhau khoảng tám trăm năm, Bài Đọc I và Tin Mừng đối đáp với nhau qua cùng một dụ ngôn vườn nho với cung điệu bi thương.

Is 5: 1-7

Trong một bài thơ trữ tình theo thể hát đối, ngôn sứ I-sai-a ca ngợi vườn nho được ông chủ hết lòng chăm sóc, nhưng vườn nho lại sinh trái nho dại trái với lòng mong ước của ông. Lúc đó, giọng nói của vị ngôn sứ vang lên: vườn nho vô ơn bội nghĩa “chính là dân Ít-ra-en”.

Tv 80 (79): 9, 12-16, 19-20

Cùng chung đề tài với Bài Đọc I và Tin Mừng, tác giả thánh vịnh cầu xin Chúa nhớ đến dân Ngài, vườn nho mà Chúa đã tận tình chăm sóc.

Pl 4: 6-9

Giữa các bản văn bi thương nầy, đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi đến các tín hữu Phi-líp-phê thì ngược lại, sứ điệp tràn ngập bình an, chan chứa niềm tin tưởng và đầy lòng nhân ái.

Mt 21: 33-43

Tin Mừng thuật lại dụ ngôn về “các tá điền gian ác”. Sau khi đã đối xử tàn ác với các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng ra tay sát hại cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.

BÀI ĐỌC I (Is 5: 1-7)

Bài thơ về “vườn nho” của ngôn sứ I-sai-a rất nổi tiếng, vì giá trị văn chương của nó. Đây là một bài thơ được đẻo gọt rất công phu nói về dân Ít-ra-en là vườn nho của Đức Chúa. Hình ảnh nầy, trước đây được ngôn sứ Hô-sê phác họa rất giản dị (Hs 10: 1), nhận được một nguồn thi hứng khôn sánh từ ngôn sứ I-sai-a, một thi sĩ tài ba. Thế nên, hình ảnh nầy được lập đi lập lại nhiều lần, trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 32: 32), Thánh vịnh (Tv 80), qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr 2: 21; 5: 10; 6: 9; 12: 10), Êdê-ki-en (Ed 15: 1-8; 19: 10-14), vân vân. Chúng ta gặp lại hình ảnh vườn nho trên môi miệng của Đức Giê-su rõ ràng quy chiếu đến bài thơ của I-sai-a (Mt 21: 33-41).

1. Ngữ cảnh:

Khoa chú giải có thể ấn định niên biểu của bài thơ về vườn nho nầy vào khoảng năm 737 trước Công Nguyên, nghĩa là vào giai đoạn đầu sứ vụ của ngôn sứ I-sai-a ở Giê-ru-sa-lem trước khi thành thánh bị đạo quân Sy-ri liên minh với đạo quân vương quốc miền Bắc vây hãm.

Những sứ điệp đầu tiên của vị ngôn sứ liên quan đến tội thờ ngẫu tượng của vương quốc miền Bắc. Khi hướng nhìn về vương quốc miền Nam, vương quốc Giu-đa mà thủ đô là Giê-ru-sa-lem, ngôn sứ I-sai-a thất vọng theo cách khác: bất công, áp bức những kẻ nghèo hèn cô thế, bạo lực, máu và nước mắt, giả nhân giả nghĩa, vân vân. Bài thơ về vườn nho của ông là một lời cảnh báo.

Chúng ta có thể hình dung vị ngôn sứ ngâm hay hát bài thơ của ông trên hành lang đền thờ vào dịp lễ hội thu hoạch nho (sau nầy được gọi lễ Lều). Lễ hội nầy kéo dài một tuần lễ. Vào ngày khai mạc và ngày kết thúc, các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên đền thánh. Dù thế nào, xứ Pa-lét-tin là miền đất trồng nho, vì thế, bà thơ của vị ngôn sứ chạm đến độ nhạy cảm của một dân trồng nho.

2. Cấu trúc:

Bài thơ được xây dựng theo cách thức của một bài thi ca trữ tình, nhưng tình phụ bạc. Thiên Chúa là hôn phu và là người trồng nho, còn Ít-ra-en là hôn thê và là cây nho hoặc vườn nho. Trong bài thi ca nầy, hai hình ảnh “người trồng nho và cây nho” và “hôn phu và hôn thê” được lồng vào nhau một cách chặt chẻ. Đáp lại sự ân cần chăm sóc của người chồng là sự bất trung của người vợ. Người chồng bị tình phụ xin đám đông phân xử. Cũng như trong các bài thic ca trữ tình, bài thi ca nầy được sáng tác theo thể hát đối.

Trước hết, vị ngôn sứ, đại diện bạn mình là chủ vườn nho, cất tiếng hát (5: 1-2). Đoạn, đến phiên mình, chủ vườn nho thổ lộ nỗi niềm tâm sự và bừng bừng nổi giận (5: 3-6). Sau cùng, vị ngôn sứ tiếp lời, và chính lúc đó mặc khải gây choáng váng: ông chủ vườn nho không ai khác chính là Đức Chúa; vườn nho không sinh hoa lợi, chính là Ít-ra-en, dân bất trung sẽ bị trừng phạt vì phụ tình bội nghĩa của nó (5: 7).

3. Bạn của chủ vườn nho cất tiếng (5: 1-2):

Vị ngôn sứ tự xưng mình là “bạn của người chủ vườn nho”, chắc chắn tước hiệu nầy được gợi hứng bởi “bạn của chàng rể” trong những bài ca hôn nhân (tước hiệu mà Gioan Tẩy giả sẽ áp dụng cho mình). Bài thơ mô tả người chồng hết mực trìu mến chăm lo cho người vợ của mình như ông chủ vườn nho ân cần chăm sóc vườn nho của mình, rào giậu chung quanh, trồng giống nho tốt “trên sườn đồi màu mỡ”. Một vọng gác trong vườn nho nói lên một sự ân cần hết mức: canh giữ ngày lẫn đêm, trông chừng những tên hái trộm, những con vật phá hoại …Than ôi, mặc cho những ân cần săn sóc giữ gìn, vườn nho chỉ sinh nho dại!

Đức Giê-su sẽ trích dẫn đúng nguyên văn vài chi tiết của bài thơ trong dụ ngôn của mình về“bọn tá điền gian ác”“Có một gia chủ kia trồng được vườn nho; chung quanh vườn, ông rào dậu; ông khoét bồn đạp nho, và xây một vọng gác” (Mt 21: 33).

4. Ông chủ vườn nho thổ lộ tâm sự (5: 3-6):

Đến phiên mình, ông chủ vườn nho thổ lộ tâm sự. Ông xin toàn thể dân chúng làm chứng cho những công sức mà mình đã đổ ra cách vô ích: “Người Giê-ru-sa-lem, và dân Giu-đa hỡi”. Vườn nho vô ơn bội nghĩa sẽ phải đón nhận sự trừng phạt đích đáng. Ông sẽ không còn quan tâm đến vườn nho của mình để mặc cho nó bị giày xéo và trở nên hoang phế, không người chăm sóc và không cho mưa trời tưới xuống. Lối nói ngoa ngữ: “Sẽ truyền lệnh cho mây, đừng để mưa tưới xuống” ở đây để cho thoáng thấy ông chủ vườn nho là một người đầy quyền năng.

5. Vị ngôn sứ tiếp lời (5: 7)

Vị ngôn sứ lại cất tiếng hát. Mặc khải của ông được chuẩn bị khéo léo. Dân chúng tự kết án mình vì họ không còn cách nào ngoài việc thú nhận mình là vườn nho được Chúa vun trồng chăm sóc hết mực nhưng chỉ sinh những nho dại, vì thế đáng bị trừng phạt.

Phương pháp tâm l‎ý nầy nhắc nhớ phương pháp mà ngôn sứ Na-than áp dụng cho vua Đa-vít về tội vua sát hại người tôi trung của mình là ông U-ri và cướp đoạt vợ của ông. Ngôn sứ Na-than cũng xây dựng một dụ ngôn về người giàu có một trăm con chiên mà lại bắt một con chiên độc nhất của người nghèo làm thịt để đãi khách. Khi vừa nghe xong dụ ngôn,“Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy”. Ngôn sứ Na-than trả lời: “Kẻ đó chính là ngài” (2Sm 12: 1-7). Cũng vậy, ngôn sứ I-sai-a vạch mặt chỉ tên: “Vườn nho của Chúa Tể càn khôn, chính là nhà Ít-ra-en đó. Cây nho Người mến yêu quí chuộng, ấy là dân nước Giu-đa”.

THÁNH VỊNH 80 (79): 9, 12-16, 19-20

Thánh vịnh này là một ai ca cá nhân. Đoạn trích của thánh vịnh này được cấu trúc như sau:

A.Vườn nho mà Chúa đã tận tình chăm sóc (cc. 9 và 12)

“Cây nho” hay “vườn nho” là một ẩn dụ truyền thống Kinh Thánh rất phổ biến để chỉ dân Ít-ra-en. Ở đây, dân Ít-ra-en xin Chúa nhớ lại tấm lòng ưu ái xưa kia của Ngài đối với dân khi Ngài bứng “gốc nho” (dân) ra khỏi Ai-cập và tận tình chăm sóc trong miền đất này (Is 5: 1-7; 27: 2-6).

B. Hoàn cảnh bi thương hiện nay của vườn nho (cc. 13-14)

Dân Ít-ra-en đang gặp phải những tai họa lớn. Những tai họa lớn đó có thể là kinh thành Sa-ma-ri bị thất thủ vào năm 721 và thành thánh Giê-ru-sa-lem bị chiếm đóng vào năm 587 (x. Tv 89: 41 trong đó vua đại diện dân).

C. Cầu xin Chúa thăm nom vườn nho của Ngài (cc. 15-18)

Trong cơn cùng khốn đó, dân Chúa nhắc lại lòng ưu ái của Thiên Chúa trong quá khứ và xin Ngài ra tay cứu giúp nhằm phục hồi dân Ngài.

D. Thú nhận tội lỗi, sám hối và dốc lòng (cc. 19-20)

Dân Ít-ra-en thú nhận tội bất trung của mình, tỏ lòng sám hối và cầu xin Chúa đón nhận họ trở lại vào trong mối liên hệ giao ước. Các ngôn sứ trong vương quốc miền Bắc đã không ngần ngại tuyên bố giao ước hoàn toàn bị hủy bỏ vì tội bất trung của dân Ít-ra-en (Am 1: 3-2: 6; Hs 1: 9).

BÀI ĐỌC II (Pl 4: 6-9)

Chúng ta tiếp tục đọc thư thánh Phao-lô gởi các tín hữu Phi-líp-phê. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân đề nghị một khuôn mẫu sống theo đó, di sản Do thái giáo, mặc khải Kitô giáo và lý tưởng Hy-lạp hòa hợp với nhau.

1. Di sản Do thái giáo:

“Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”. Đây là lời cầu nguyện mang đậm nét lời cầu nguyện Do thái giáo qua việc lập đi lập lại những lời ngợi khen, cảm tạ và tri ân: “Ngợi khen Thiên Chúa…Chúc tụng Thiên Chúa…”, được xen lẫn với những lời khấn nguyện cầu xin Chúa rủ lòng thương. Thánh Phao-lô, trung thành với truyền thống nầy, dễ dàng thích ứng truyền thống nầy vào trong lời cầu nguyện Kitô giáo và khuyên bảo các tín hữu Phi-líp thực hành như thế.

2. Mặc Khải Kitô giáo:

“Bình an của Thiên Chúa, là bình an không ai hiểu thấu, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hiệp với Đức Giê-su Kitô”. Chúc bình an cũng thuộc vào truyền thống Do thái giáo. Ở đây, không chỉ cầu xin “bình an”, nhưng còn những ơn ban khác nữa. Theo gương Đức Giê-su, thánh nhân đem đến cho chữ “bình an” một chiều kích mới. Đối với thánh nhân, bình an của Thiên Chúa, chính là bình an mà hy tế của Đức Giê-su đã mang lại cho chúng ta. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã hòa giải muôn loài muôn vật với mình. Nhờ Thánh Thần của Ngài, Ngài toả rạng bình an giữa các Kitô hữu và giữa các Kitô hữu và muôn dân. Bình an là một khía cạnh của cuộc sống đời đời, được khởi sự từ dưới thế nầy.

3. Lý tưởng Hy lạp:

Thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Kitô hữu gốc Hy-lạp. Thánh nhân khuyên họ đừng từ bỏ, nhưng hãy thấm nhập vào trong con người họ những đức hạnh mà truyền thống cha ông của họ đã dạy: “Những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý”.

Như vậy, thánh Phao-lô đã không dửng dưng trước l‎ý tưởng luân lý của truyền thống văn hóa Hy-lạp. Kitô giáo không nhằm loại bỏ “những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt”. Thánh nhân đã hình thành nên “học thuyết nhân bản Kitô giáo”. Nhưng học thuyết nầy để thực sự là Kitô giáo phải dựa vào lời dạy tông đồ để không có bất kỳ khiếm khuyết nào và sai lệch nào: “Những gì anh em đã học hỏi, đã hấp thụ, đã nghe, đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành”. Công Đồng Va-tican II cũng đã dạy theo cùng một cách như vậy: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, vàkhông có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ (Vui Mừng và Hy Vọng, 1).

TIN MỪNG (Mt 21: 33-43)

Tiếp theo dụ ngôn về “hai người con” mà chúng ta đã đọc trong Chúa Nhật vừa qua, thánh Mát-thêu ghi tiếp dụ ngôn về “những tá điền gian ác” trong cùng một chiều hướng và cùng nhắm đến một đối tượng.

1. Dụ ngôn:

Đức Giê-su mượn ở nơi bài thơ của ngôn sứ I-sai-a hình ảnh về chủ vườn nho: “trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; ông khoét một bồn đạp nho, và xây một vọng gác”, nhưng lại triển khai theo một chiều hướng khác với I-sai-a. Trong sấm ngôn của I-sai-a, đối tượng được nhắm đến là vườn nho. Dù được chăm sóc chu đáo, nhưng vườn nho lại sinh những trái nho dại, vì thế, bị bỏ rơi thành hoang phế. Trái lại, trong dụ ngôn, đối tượng được nêu bật là thái độ gian ác của bọn tá điền.

Ông chủ vườn nho “trẩy đi xa” và để vườn nho cho bọn tá điền thuê. Đến mùa thu hoạch, chủ vườn nho sai gia nhân của mình đến thu hoạch huê lợi. Các tá điền không chỉ không giao nộp huê lợi như giao ước, trái lại “chúng đánh người nầy, giết người kia, ném đá người nọ”. Vẫn một mực nhẫn nại, ông chủ vườn nho cố thử thêm một lần nữa: “sai một số đầy tớ khác đông hơn trước; nhưng bọn tá điền vẫn cư xử với họ y như vậy”. Cuối cùng, ông quyết định liều sai đứa con trai một của mình. “Thế là chúng bắt lấy cậu, lôi ra ngoài vườn nho và giết chết cậu”.

2. Ý nghĩa của dụ ngôn đối với lịch sử cứu độ:

Dụ ngôn nầy diễn tả một cách ngắn gọn cả một lịch sử cứu độ dài, một thiên tình sử giữa Đức Chúa và dân Ngài. Vườn nho của Đức Chúa chính là dân Ít-ra-en. Ngài đã trao cơ nghiệp của Ngài cho các giai cấp lãnh đạo Do thái để họ chăm lo vun xới và làm trổ sinh hoa trái. Biết bao lần, Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở họ phải trung thành tuân giữ giao ước, nhưng họ đã ngược đãi, bách hại và giết chết các ngài. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn sai lần lượt các ngôn sứ nầy đến các ngôn sứ khác, nhưng họ không hề thay đổi, vẫn cư xử các ngài theo cùng một cách như thế. Nhưng lòng nhẫn nại của Thiên Chúa vẫn không hề vơi, cuối cùng Ngài sai chính con một của Ngài với hy vọng: “Chúng sẽ nể con ta”. Nhưng lòng gian ác của họ đã đạt đến cực điểm. Họ đã tra tay bắt lấy “Người Con Một” của Ngài và lôi ra ngoài thành thánh Giê-ru-sa-lem mà giết đi để mong chiếm đoạt gia sản của Ngài.

Qua dụ ngôn nầy, Đức Giê-su quy trách nhiệm cho giai cấp lãnh đạo Do thái còn cứng rắn hơn dụ ngôn hai con trai trước đó. Đồng thời, Ngài cũng kín đáo và thống thiết muốn cho họ hiểu rằng Ngài là Con Thiên Chúa và sắp bị giết chết bởi lòng gian ác của họ.

3. Ý nghĩa dụ ngôn đối với Giáo Hội.

Như vị ngôn sứ trong bài ca vườn nho, Đức Giê-su xin thính giả của Ngài, tức giai cấp lãnh đạo Do thái, phân xử. Những người nầy phẩn nộ về thái độ của bọn tá điền, không ngờ chính mình lại tự kết án mình. Và như dụ ngôn hai người con trước đây, ở đoạn cuối, ý nghĩa của dụ ngôn được Chúa Giê-su giải thích rõ ràng.

Đức Giê-su trích dẫn Tv 118: ‘Viên đá người thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Ấy là Chúa đã làm nên như vậy, trước mắt chúng ta, thật lạ lùng”. Thánh vịnh nầy ca ngợi việc chấn hưng dân Ít-ra-en tương lai và được giải thích như Thánh vịnh thiên sai. Giáo Hội tiên khởi đã thấy ở đây một lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Kitô (cf. Cv 4: 11 và 1Pr 2: 7).

Con Thiên Chúa can thiệp và bị giết chết, xem ra là một sự thất bại rõ ràng. Nhưng nhờ cái chết của Người Con nầy, một dân mới, được biểu thị không còn bởi hình ảnh vườn nho nhưng tòa nhà. Toà nhà nầy Đức Giê-su sẽ là viên đá góc tường sẽ được xây dựng trên nền móng vững chắc: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt. 16: 18).

[Mục Lục]

Bài 3. VƯỜN NHO GIAO ƯỚC

JM. Lam Thy ĐVD.

Sau khi đám thượng tế, kinh sư, kỳ mục chất vấn Đức Giê-su về thẩm quyền của Người (Mt 21, 23-27), thì Người kể cho họ nghe liên tiếp 2 dụ ngôn “Hai người con” và “Những tá điền sát nhân”. Bài Tin Mừng tuần trước (CN XXVI/TN-A – Mt 21, 28-32) trinh thuật dụ ngôn “Hai người con”: Người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho của ông. Bài Tin Mừng hôm nay (CN.XXVII/TN-A – Mt 21, 33-43) trình thuật tiếp dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” cũng liên quan đến vườn nho. Ngoài ra, Đức Giê-su còn kể dụ ngôn “Thợ làm vườn nho” (Mt 20, 1-16), và Người còn tự xưng “Thầy là cây nho và anh em là cành” (“Cây nho thật” – Ga 15, 1-9). Vì sao lại có nhiều sự kiện liên quan đến vườn nho như vậy? Cũng bởi vì dân It-ra-en được Thiên Chúa tuyển chọn và coi như một vườn nho được Người chăm sóc, bảo vệ. Bài đọc 1 hôm nay (“Bài ca vườn nho” – Is 5, 1-7) là một ví dụ. Không phải chỉ một mình ngôn sứ Isaia ví Dân Chúa là vườn nho, mà ngôn sứ Hô-sê cũng gọi Ít-ra-en là cây nho um tùm, trổ ra hoa trái (Hs 10, 1); đến ngôn sứ Giê-rê-mi-a còn sử dụng hình ảnh này nhiều hơn (Gr 2, 21; 5, 10; 6, 9; 12, 10); và Ê-dê-ki-en cũng không tiếc lời (Ed 15, 1-8; 17, 3-10; 19, 10-14).

Trong “Bài ca vườn nho”, ngôn sứ Isaia khẳng định: “Vườn nho của ĐỨC CHÚA các đạo binh, chính là nhà Ít-ra-en đó; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, ấy chính là người xứ Giu-đa.” (Is 5, 7). Điều đó cho thấy vườn nho It-ra-en là Dân Giao Ước, Dân của mối tình thắm thiết mà Thiên Chúa đã dành cho dòng dõi Ap-ra-ham. Người đã không tiếc với họ một tí gì. Không những thế, như người trồng nho cần cù, Người đã vỡ đất, nhặt đá trước khi đem trồng một thân nho đan tử, rồi còn cất tháp canh và khoét sẵn một bồn đạp nho. Người đã làm tất cả mọi việc với chan chứa hy vọng vườn nho sẽ sinh hoa kết trái tốt tươi. Thật vậy, ngay từ đầu Thiên Chúa đã muốn cho dòng dõi Ap-ra-ham nhiều như sao trên trời và như cát ngoài biển (St 22, 17), Người mong muốn mọi dân nhờ đấy mà được hưởng phúc.

Thật đáng tiếc, vườn nho It-ra-en lại trổ sinh toàn một thứ “nho dại”. Điều tất yếu xảy ra là ông chủ sẽ “hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo. Tôi sẽ biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm; sẽ truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa tưới xuống.” (Is 5, 5-6). Ngụ ý của tác giả thật rõ ràng: Thiên Chúa “những mong họ (dân It-ra-en) sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than.” (Is 5, 7). Nhìn theo nhãn quan trần thế thì tất nhiên cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng xuống It-ra-en, vì quả thật thời Lưu Đày ở Ba-by-lon đã xảy ra (vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên). Tuy nhiên, Thiên Chúa là Đấng “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải (2 Pr 3, 9)”, bởi “Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống” (Ed 18, 32). Và vì thế, Người mới giao vườn nho cho những tá điền chăm sóc. Tới đây thì lại bước vào thời điểm của dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” (Mt 21, 33-43) ứng nghiệm.

Để vườn nho tự phát triển thì vườn nho sinh toàn nho dại. Tức giận và triệt phá vườn cho thành đất hoang vu, ông chủ cũng chẳng vui thích gì. Cuối cùng, vườn nho được giao cho tá điền canh tác với hy vọng sẽ bội thu hoa lợi. Đến mùa thu hoạch, chủ vườn nho sai đầy tớ đến để thu hoa lợi. Bọn tá điền không thèm đếm xỉa đến các đầy tớ, đánh người này, giết người kia. Sau cùng ông chủ sai con trai mình đến, hy vọng chúng sẽ nể con ông. Thế nhưng, các tá điền giết luôn cả người con, nghĩ rằng giờ đây chúng sẽ có thể chiếm đoạt được vườn nho. Kể tới đây thì Đức Giê-su bất ngờ đặt câu hỏi: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” Đám thượng tế với tâm địa chẳng tốt lành gì, đồng thời lại được giáo dục bởi một lề luật “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân…” (Xh 21, 23-25), nên ngay lập tức họ trả lời: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.”

Đám người Do-thái trả lời mà không ý thức được “mình đang phán xét, đang kết án chính mình”, bởi đám tá điền sát nhân đó không ai khác hơn là chính đám người đang nghe dụ ngôn và trả lời câu hỏi của Đức Giê-su; họ sẽ nhận được bản án mà chính họ đã đưa ra. Vì đám người này chuyên vỗ ngực xưng mình là người thông thạo lề luật, nắm vững Kinh Thánh trong lòng bàn tay, nên Đức Giê-su đã đặt một câu hỏi châm biếm (“Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao?”) để lái câu chuyện theo ý của Người là dẫn lời Thánh vịnh 118 (câu 22-23), nhằm xác định chính Người là con trai ông chủ: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của CHÚA, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Như vậy thì Vườn nho ấy chính là “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Ai ngã xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt.” (Mt 21, 43-44).

Rõ ràng đây là một cơ hội tốt để các nhà lãnh đạo tinh thần Do-thái giáo thức tỉnh và hối cải (“trở lại và hãy sống” – Ed 18, 32), nhưng vì họ không tin vào ngụ ý trong dụ ngôn thức tỉnh họ, nên đã từ chối và tiếp tục theo con đường mù quáng, đi tới chỗ thực hiện đúng như lời dụ ngôn tiên báo: Không chỉ tàn sát các tôi tớ của ông chủ (những ngôn sứ Thiên sai), mà còn giết luôn cả con ông chủ (Đức Giê-su Con Thiên Chúa). Con ông chủ vườn nho – “Tảng đá” bị thợ xây (là những tá điền sát nhân) loại bỏ; không ngờ “lại trở nên đá tảng góc tường” làm nền móng cho Vườn Nho Giao Ước Mới, và “Đó chính là công trình của CHÚA, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” (Tv 118, 23). Đâu ai có thể ngờ được con ông chủ bị giết chết lại trở thành ơn cứu rỗi cho vườn nho, viên đá tảng bị loại bỏ lại trở thành Nền Móng kiên cố xây dựng Vườn Nho Nước Chúa vĩnh hằng.

Thật là mầu nhiệm, thật là kỳ diệu, ngay cả những hành động gian ác của con người lên đến đỉnh điểm cũng không ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa – Người cho phép có sự ác nhưng cuối cùng Người xoay chiều cái ác thành cái thiện (“Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt” – St 50, 20). Giáo Lý HTCG (số 312) đã lý giải rõ ràng: “Thiên Chúa trong sự quan phòng toàn năng có thể rút sự lành từ hậu qủa của một sự dữ, cho dù là sự dữ luân lưu do thụ tạo gây nên: “Giu-se nói với anh em: không phải các anh đã đưa đẩy tôi đến đây nhưng là Thiên Chúa, … sự dữ mà các anh đã định làm cho tôi, ý định của Thiên Chúa đã chuyển thành sự lành… để cứu sống một dân đông đảo” (St 45, 8; 50,20). Từ việc Ít-ra-en chối bỏ và hạ sát Con Thiên Chúa là sự dữ luân lý lớn nhất chưa từng có do tội lỗi của mọi người gây nên, Thiên Chúa đă rút ra được sự lành lớn nhất do sự sung mãn của ân sủng (Rm 5, 20): Đức Ki-tô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì thế mà cái xấu trở thành cái tốt được.”

Đức Giê-su kể dụ ngôn này để cảnh cáo các nhà lãnh đạo tinh thần Do-thái giáo, đồng thời cũng để nhắc nhở tất cả mọi tín hữu: Tội nặng nhất của các tá điền không những là từ chối đón tiếp, mà còn giết hại những người được ông chủ sai đến. Trước những tá điền bất trung và sát nhân, ông chủ vẫn cứ kiên nhẫn, sai hết người này đến người nọ, ngày càng nhiều hơn và cuối cùng sai chính con của mình đến với họ. Chung quy thì tội ấy bắt nguồn từ chỗ họ muốn chiếm lấy vườn nho. Nói cách khác, các tá điền (những thượng tế, kinh sư, kỳ mục Do-thái) đã “dĩ công vi tư” (lấy chuyện công làm chuyện riêng) muốn chiếm hữu cả vườn nho để tỏ ra là mình quan trọng, là tạo một ảnh hưởng có lợi cho bản thân. Đó phải chăng là họ đang phục vụ chính mình dưới cái vỏ bề ngoài là sự tận tụy và đạo đức phục vụ công ích?

Bài học rút ra được cho người tín hữu ngày hôm nay là tùy theo phận vụ của mình trong Giáo Hội, mỗi Ki-tô hữu là những tá điền được Chúa ủy thác làm vườn nho Giao Ước Mới của Chúa là xây dựng Nước Trời, xây dựng Giáo Hội thành cộng đoàn hiệp nhất yêu thương. Hãy thẳng thắn nhìn lại bản thân xem mình có làm vì lợi ích Nước Trời, vì lợi ích cho anh em hay chỉ vì quyền lợi của cá nhân mình? Làm công tác Tông đồ bác ái có thật lòng hay chỉ thích đứng ở ngã ba ngã tư, súng sính trong trang phục lộng lẫy, khua chiêng gõ mõ ồn ào (Mt 6, 1-6) cốt cho thiên hạ thấy mình là nhân vật quan trọng? Yêu cầu tất yếu dành cho tất cả mọi thành phần tá điền (lớn nhỏ tuỳ từng nhiệm vụ) là phải biết luôn luôn nhìn lại mình xem có thực sự xứng đáng với trách vụ của mình được Chủ vườn nho uỷ thác, hay không.

Vì Tình Yêu, Ông Chủ vườn nho luôn đối xử rất công bằng với tất cả, vậy không còn lý do nào để biện mình cho những cá tính kiêu ngạo, đố kỵ, ghen tức, hận thù; mà phải là “sống hiền hoà rộng rãi… và trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su. Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em” (Pl 4, 5-9).

Cuối cùng thì xin hãy “Sống khiêm nhường và bác ái trong cộng đoàn” (Rm 12, 3-13), “Bác ái đối với mọi người, kể cả thù địch” (Rm 12, 14-21). Ấy cũng bởi vì và trên tất cả “Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của mình. Mỗi người chúng ta hãy chiều theo sở thích kẻ khác, vì lợi ích của họ, và để xây dựng. Thật vậy, Đức Ki-tô đã không chiều theo sở thích của mình; trái lại, như có lời chép: Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu. Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy.” (Rm 15, 1-4). Ước được như vậy. Amen.

[Mục Lục]

Bài 4. CHÚA GIÊSU ĐỨNG TRÊN MỌI QUYỀN LỰC

P. Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn, Tin Mừng Chúa Nhật XXVII TN A hôm nay (Mt 21,33-43) rất thú vị, dù nội dung dụ ngôn thật bất nhân, mang tính bất lương, mất nhân tính. Nhưng câu kết của Đoạn Tin Mừng hôm nay là một đoạn kết có hậu, đầy tràn sự nhân đạo, ôn hòa. Vì sao, thưa quý vị? Thưa vì, “CHÚA GIÊSU- ĐẤNG CỨU THẾ, ĐỨNG TRÊN MỌI QUYỀN LỰC”.

Theo đó, Đoạn Tin Mừng hôm nay, tuy có 11 câu, nhưng có thể chia làm 3 phần :

- Phần 1: Nội dung dụ ngôn “Dụ ngôn vườn nho và những tên tá điền ác nhân” (Mt 21, 33- 39)

- Phần 2 : Vấn đề Chúa Giêsu đặt ra và sự trả lời của người Do-thai (Mt 21, 40 – 41)

- Phần 3 : Sự trả lời của Chúa Giêsu và ý nghĩa nhân hậu của vấn đề (Mt 21, 42 -43)

Như vậy, ý nghĩa đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học vô cùng cao siêu từ Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, nhưng không nhu nhược. Bởi vì, Người đứng trên mọi quyền lực. Điều đó được biểu lộ tại câu 43 của Tin Mừng thánh Mat-thuê.

Qua đoạn nầy, chúng ta xem lại các đoạn (Mc 12, 1- 12 ); (Lc 20, 9-19), sẽ thấy điểm khác biệt của Tin Mừng Matthuê, thánh Mat-thuê thường sử dụng từ “Gia Chủ “ để chỉ về Thiên Chúa. Đây là từ ngữ được đặc trưng cho Matthuê, hầu đề cập đến một Nước Thiên Chúa siêu nhiên.

Khởi đi từ bài đọc I (Is 5, 1- 7), chúng ta thấy Thiên Chúa nhân từ yêu thương dân tộc Israel, chi họ Giu-đa. Hình ảnh vườn nho là một sự thân thương, một hoạt cảnh thiết thực trong đời sống dân Do-thai, được Thiên Chúa yêu thương, săn sóc, vỗ về.

Bài đọc II thánh Phao-lô (Pl 4, 6 – 9) chỉ dạy cho chúng ta biết, chúng ta đừng lo lắng, nhưng hãy cậy trông tin tưởng vào Thiên Chúa, vì bình an của Thiên Chúa vượt lên trên tất cả, sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Đức Kitô-Giêsu. Vì những điều tốt là những điểm cần chú ý và đã được nhìn thấy từ thánh nhân thì nên thực thi

Trở về Đoạn Tin Mừng hôm nay, tại câu 34, thánh Matthuê cho chúng ta thấy, Nước Thiên Chúa đang đến gần : “Gần đến mùa hái nho, ông cho đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi” (c34). Qua câu nầy, thánh Matthuê đã dùng một mệnh đề tạo hình dáng cho người đọc thấy được đặc tính Nước Thiên Chúa sắp đến gần. Điều nầy sẽ xuất hiện ở câu 43 là câu mấu chốt của vấn đề. Ở câu 35; Đánh đập các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, thật là sát nhân. Điều nầy theo nghĩa bóng là giết hại các tiên tri, bất chấp sự giáo huấn của họ. Nhưng theo nghĩa đen, thì cảnh tượng nầy chính là nằm ở lòng tham của phàm nhân. Chúng ta thấy, hình ảnh nầy, theo nghĩa đen thì không xa lạ gì với tâm trạng tội lỗi của nhân loại. Người làm công và tá điền cũng thường dấy lên để chống lại chủ. Tuy nhiên cũng có những chủ nhân bất công, hà khắc, nhưng cũng có những chủ nhân tốt. Dù sao, tâm lý tá điền và người làm công, nếu như không có nhân đức, thì lòng tham dễ nổi lên. Thánh Matthuê đã đưa thêm vào so với Mc và Lc, là giết người và ném đá điểm nầy. Câu 36 -37, chúng ta thấy thánh Matthuê đã tóm tắt cảu Mc, loại bỏ tính từ “được yêu thương” dành cho “Người Con” của ông chủ. “…Ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : “chúng sẽ nể con ta” (c 37). Nhưng khi bọn tá điền vừa trông thấy người con trai thì hè nhau nói : “Nào đây, là đứa thừa tự đây rồi !”. “Chúng ta giết quách cho xong, và chiếm đoạt gia tài nó” (c 38). Và rồi chúng cũng giết luôn người con trai của ông chủ (c 39). Như vậy, chúng ta thấy sự tàn ác theo nghĩa đen là do của cải vật chất, sự ganh tỵ, sự ích kỷ, sự tàn ác chính là hệ quả của lòng tham.

Ở câu 39 thánh Matthuê đã đưa vào một ngụ ý là Chúa Giêsu sẽ chịu “tử nạn” ở bên ngoài thành Giêrusalem “quăng ra bên ngoài vườn nho và giết đi”.

Câu 40 – 41, Matthuêu cho thấy cuộc đối thoại mà trong đó sự trả lời gay gắt, mạnh mẽ của các kinh sư, nhằm lên án sự ác nhân , thất đức của các tá điền bất lương. Chính là những hành động của dân Israel đã hành động đối với Thiên Chúa là Ông Chủ của họ. Về mặt nhân bản tự nhiên, khi nghe câu chuyện như vậy, con người vẫn tỏ thái độ phán xét vội vàng, tưởng chứng như một quan tòa chí công.Khi phàm nhân nghe thấy, hoặc chứng kiến một sự thiếu công bằng nào đó, họ dễ nổi giận ngay và đưa ra một “phán quyết”, nhưng Thiên Chúa thì không “trả đũa”.

Nhưng ở câu 42, được trích từ Thánh Vịnh 118, 22-23, được Chúa Giêsu dùng để bảo họ. Các ông chưa từng bao giờ đọc câu nầy trong Kinh Thánh sao ? : “Tảng đá bị thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Nhưng quan trọng là ở câu 43. “Bởi đó, Tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (c 43).

Ý nầy chính là sự đóng góp quan trọng của thánh Matthue, làm cho phần giải thích của dụ ngôn “ vườn nho và những tá điền bất nhân” nầy thêm phong phú, nhằm hé mở ra một ngụ ý về lịch sử cứu độ của Thiên Chúa qua Đấng Cứu Thế. Những người được sai đến là các tiên tri, ngôn sứ, nhưng đều bị người Israel giết hại, cuối cùng lên đến cực điểm là chính Chúa “GIÊSU”, với tư cách là “người con trai”.

“Nước Thiên Chúa” có thể được hiểu như là một điều gì đó như một sở hữu hiện tại của sự bảo bọc và ân sũng bởi Thiên Chúa, nhưng những động từ ở quá khứ và tương lai có thể làm cho câu nầy trở nên một ý nghĩa như một “Lời Hứa” ban phước vào ngày thế mạt hco mọi dân tộc. Theo đó, nơi Thiên Chúa không có sự trừng phạt nào, bởi đã có Chính Đấng Cứu Chuộc. Điều nầy có thể được minh định bởi câu nói của Chúa Giêsu : “Ta đến không phải để lên án thế gian. Nhưng để cứu chuộc thế gian. Hầu thế gian nhờ Ta mà được sống. Sống dồi dào và sung mãn” (Ga 3, 17); (Ga 12, 47); (Ga 10 , 10).

Từ “dân” (c 43) ở đây chỉ Giáo Hội, được Matthue đưa lên như là sự mở màn cho những người Israel có lòng tin và những người cải tà qui chánh, qui hồi về niềm tin, thức tỉnh, giác ngộ. Nhận ra Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Những ai mà cùng nhau xây dựng dân tộc mới của Thiên Chúa. Như vậy, Giáo Hội Công Gíao là một tiêu biểu, một sự cứu độ phổ quát cho hết mọi người, đó là dân Do-thái thực thụ (không hiểu như nghĩa đen).

Theo đó, sự kết luận của đoạn Tin Mừng hôm nay, thì ôn hòa hơn là nội dụng dụ ngôn. Nói cách khác là đoạn kết có hậu. Thiên Chúa không tiêu diệt kẻ gian ác, nhưng “Lời Hứa” bị lấy đi ban cho người khác. Đó là cách xử lý của Thiên Chúa, còn chúng ta thì sao ?

Lạy Chúa Giêsu, Đấng cứu độ trần gian,là Đấng chính Chúa Cha sai đến, Chúa là Đấng đứng trên hết mọi quyền lực. Nơi Chúa không có sự thua cuộc, không có hận thù, chỉ có tha thứ và yêu thương, vì đó là NƯỚC THIÊN CHÚA, nhưng Chúa sẽ lấy lại, nếu như kẻ lãnh nhận bất xứng, chứ Chúa không tiêu diệt. Vì sự trừng phạt của Chúa, chính là thu hồi “ân sũng” là “Lời Hứa” yêu thương ngọt ngào như sữa và mật ong. Xin thương ban cho con người biết nhận ra chân lý ấy mà sám hối ăn năn, hầu đáng lãnh nhận ơn tha thứ. Amen./.

[Mục Lục]

Bài 5. Vườn nho

Qua dụ ngôn những người tá điền nổi loạn chúng ta thấy ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa đã rào giậu và chăm sóc cho vườn nho của mình. Còn những tá điền nổi loạn chính là dân Do Thái, dân tộc đã được Thiên Chúa chọn lựa và trao ban cho muôn vàn hồng ân. Còn các đầy tớ được sai đến là các tiên tri. Nhờ các tiên tri mà Thiên Chúa biểu lộ thánh ý của Ngài cho họ, thế nhưng họ đã đối xử dã man và tàn bạo đối với những người được Thiên Chúa sai đến. Nào là đánh đập, nào là giết đi.

Sau cùng ông chủ đã phải sai phái chính người con trai duy nhất của mình đến với họ, để tỏ cho họ thấy lòng nhân từ thương xót vô biên của Ngài, nhất là sau những biến cố đáng buồn đã xảy ra. Người con duy nhất này là hình ảnh tượng trưng cho Đức Kitô, Đấng đã bị họ giết chết trên thập giá. Cái chết khổ đau này làm cho Ngài liên tưởng tới lời thánh vịnh 118: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường, đó là việc Thiên Chúa đã làm và thực lạ lùng dưới mắt chúng ta. Tảng đá góc tường là nơi câu móc những bức tường của toà nhà, nó nắm giữ một vai trò, một vị trí rất quan trọng.

Cuối cùng Thiên Chúa đã phải bỏ rơi dân Do Thái, để chọn cho mình một dân riêng mới, đó là Giáo Hội, để đem lại cho Ngài nhiều hoa trái.

Câu chuyện trên cũng làm cho chúng ta nhớ tới hinh ảnh vườn nho của tiên tri Isaia. Vườn nho này được chủ hết sức chăm sóc với hy vọng sẽ có được những trái nho đặc biệt, thế nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, khiến cho chủ phải nổi giận: Còn việc gì nữa mà Ta đã không làm cho vườn nho của Ta. Ta mong ước có được những trái ngon trái ngọt, vậy tại sao nó chỉ cho toàn những trái chua trái dại?

Còn chúng ta thì sao? Phải chăng tâm hồn chúng ta chỉ là một cây nho cằn cỗi? Thiên Chúa cũng đã đổ xuống cho chúng ta biết bao nhiêu ơn lành hồn xác, thế mà con người chúng ta vẫn không thể đâm bông kết trái. Có lẽ chúng ta cần phải dừng lại, để hồi tâm xét mình, kiểm điểm lại cuộc sống, trước khi nó đã quá muộn.

Nếu như chúng ta trung thành phụng sự Chúa, thì chúng ta không có chi phải lo buồn sầu khổ. Trái lại, nếu chúng ta đã có những thái độ và một nếp sống như dân Do Thái ngày xưa, thì chắc hẳn, trong giờ phút sau hết, Thiên Chúa cũng sẽ loại bỏ chúng ta và trao ban Nước Trời cho những người khác là những người biết đâm bông và kết trái.

[Mục Lục]

Bài 6. Thợ vườn nho

Dụ ngôn những thợ vườn nho phản loạn thuộc vào loại các dụ ngôn Chúa dùng để tỏ lộ thân thế của Ngài là Đấng Thiên Sai. Dụ ngôn này cũng cho thấy sự cô đơn bi thảm của Chúa Giêsu, khi bị dân Ngài loại bỏ.

Như thường lệ Chúa Giêsu cấu tạo dụ ngôn từ các thực tại mà Ngài nghe thấy trước mắt. Trong xứ Galilêa thời ấy, những điền chủ bỏ tiền vào việc trồng nho. Họ giao cho thợ làm vườn nho trông coi rồi trả lương. Đôi khi họ đi vắng xa, chẳng hạn như ra nước ngoài, và để quan lý mùa màng, họ sai những đầy tớ đến với những người thợ làm vườn. Theo luật Do Thái, nếu chủ một thửa đất chết đi mà không có người thừa kế, thì thửa đất ấy sẽ thuộc về người nào chiếm ngụ đầu tiên. Điều này làm cho chúng ta hiểu được lý luận của các thợ làm vườn nho: Đứa con thừa tự đây rồi, nào hãy giết nó đi và chúng ta sẽ chiếm được gia tài của nó. Quả thực, người con thừa tự mà chết, đất sẽ thành vô chủ và thuộc quyền những kẻ cư ngụ.

Qua dụ ngôn này và qua đoạn kế tiếp với hình ảnh viên đá góc bị thợ xây loại bỏ, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu rằng: Chính Ngài là người con bị bọn thợ làm vườn nho giết đi, chính Ngài là viên đá góc bị thợ xây loại bỏ.

Một cách quyết liệt, dụ ngôn đã đưa ra câu hỏi sau đây: Làm sao giới hữu trách của dân Do Thái lại đi tới chỗ loại bỏ Đấng thiên sai? Tôi xin thưa vì họ đã buông thả theo bản năng chiếm hữu của họ. Chủ vườn nho là Thiên Chúa, thủ lãnh duy nhất của họ. Thế nhưng tinh thần chiếm hữu của họ hệ tại việc áp đặt quan niệm riêng của họ về lề luật. Họ dùng lề luật để thống trị dân, họ còn có cao vọng dùng dân tộc của họ để lên ngôi thống trị thế giới. Các vị tiên tri đã đến để nhắn nhủ họ, nhưng tất cả đều bị họ giết chết, và sau cùng họ đã đi tới chỗ loại bỏ Đấng Thiên Sai, Con Một của Thiên Chúa. Thay vì phục vụ cho lề luật và dân chúng thì họ đã chiếm hữu, coi mình là chủ của lề luật và của dân chúng.

Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có thoát khỏi thái độ tự coi là người làm chủ của Tin Mừng, của chân lý hay không? Làm thế nào để phục vụ Phúc Âm mà không chiếm hữu? Tôi xin thưa bằng cách để cho tinh thần Phúc Âm thấm nhập vài cải tạo chúng ta, chứ chúng ta không đọc Phúc Âm, rồi sau đó ngồi sắp xếp Phúc Âm theo ý riêng của chúng ta. Ngày xưa các thầy thông luật đã lèo lái niềm trông đợi của dân chúng tới những ước vọng thống trị trần gian. Ngày nay cũng không thiếu gì những người muốn lợi dụng Phúc Âm để quảng cáo cho một hệ thống chính trị hay một quan niệm xã hội. Chúng ta không có quyền sử dụng và dùng Phúc Âm vào một mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu đi đến Đức Kitô. Nhiều người muốn chiếm hữu Phúc Âm để mưu cầu lợi ích riêng tư, để rồi cuối cùng đã đi đến chỗ phủ nhận con người Đức Kitô. Tin Mừng mời gọi chúng ta xây dựng cuộc sống trên viên đá góc là Đức Kitô, Đấng chúng ta tìm kiếm và yêu mến, chứ không nên lèo lái Ngài và Tin Mừng của Ngài vào những ý đồ riêng tư của mình.

[Mục Lục]

Bài 7. Tá điền và vườn nho

Nếu ruộng lúa, nương khoai, khóm trúc và con trâu là những hình ảnh quen thuộc của người Việt Nam, thì người Do Thái cũng có những hình ảnh thân thương đối với họ, đó là đàn chiên và vườn nho.

Thực vậy, Chúa Giêsu sinh ra là người Do Thái, cũng đã thừa hưởng nền văn hóa con chiên và cây nho ấy. Ngài đã dùng những hình ảnh quen thuộc đó để nói lên quan điểm của Ngài đối với mối tương giao giữa Thiên Chúa và Israel, cũng như mối tương giao giữa bản thân Ngài đối với các tín hữu của mình…

Chẳng hạn trong Tin Mừng theo thánh Gioan thì Chúa Cha là người trồng nho, bản thân Ngài là cây nho còn các môn đệ là ngành nho. Điều Ngài muốn truyền dạy là chúng ta phải sống gắn bó mật thiết với Ngài.

Thế nhưng trong Tin Mừng theo thánh Matthêu thì hình ảnh cây nho hay nói đúng hơn hình ảnh vườn nho được khai thác cho một đề tài khác.

Chúa Giêsu đã nói tới lòng tốt của ông chủ vườn nho không những sẵn sàng thuê mướn mọi người, nhất là những kẻ thất nghiệp, kém may mắn, mà còn trả công đồng đều cho cả những kẻ làm việc ít giờ nhất.

Ngài cũng đã nói tới những tá điền, là những người quản lý có trách nhiệm canh tác vườn nho để giao nộp hoa lợi cho chủ. Nhưng họ đã phản bội, đã đánh đập các sứ giả và đã giết chết chính người con của chủ. Để rồi, chủ đã phải lấy lại vườn nho mà trao cho người khác quản lý, tức là Giáo Hội.

Hôm nay, khi đọc lại dụ ngôn này, chúng ta sẽ ung dung tự nhủ: Do Thái là Do Thái và Giáo Hội là Giáo Hội Chúa đã trao đoàn chiên cũng như vườn nho của Ngài cho Giáo Hội, người quản lý cuối cùng mà Chúa đã chọn, vì thế không còn gì phải lo sợ: Làm thế nào mà Giáo Hội lại có thể giết hại các tôi tớ Chúa và cướp đoạt vườn nho Chúa được.

Thế nhưng chúng ta không nên lạc quan với những nhận định trừu tượng và lý thuyết trên đây mà phải nhìn vào thực tại trước mắt: Và thực tại trước mắt cho thấy Giáo Hội chính là chúng ta. Cộng đoàn dân Chúa, gồm những con người bằng xương bằng thịt, mới chỉ được mời gọi và được ban ơn sủng để nên thánh, hay nên hoàn thiện, nhưng thực tế thường chưa thánh, chưa hoàn thiện, do đó vẫn còn có thể có những kẻ lười biếng không chịu làm việc trong vườn nho, tệ hơn nữa vẫn còn có thể có những kẻ hung ác đánh đập, hành hạ và thậm chí giết hại những người tôi trung của Chúa, những người làm vườn tốt, để chiếm lấy vườn nho cho mình. Chính những ngôn ngữ chúng ta thường dùng cũng tố cáo sự chiếm đoạt có khi là vô ý thức đó.

Thực vậy, chúng ta chẳng thường nói: Con chiên của tôi, nhà thờ của tôi, giáo xứ của tôi, Giáo Hội của tôi. Trong khi đúng ra phải nói là con chiên của Chúa, nhà thờ của Chúa, giáo xứ của Chúa, Giáo Hội của Chúa.

Nhìn vào vườn nho Chúa, chúng ta thấy không thiếu những cây nho cành lá xum xuê mà chẳng sinh được một trái. Cũng chẳng thiếu những cành nho khô héo èo uột vì chỉ còn dính hờ vào thân cây.

Điều đáng buồn hơn nữa là cũng chẳng thiếu gì những tá điền, những người quản lý đã chiếm đoạt vườn nho Chúa làm gia nghiệp riêng của mình. Họ mặc sức khai thác tùy theo ý muốn, miễn sao có lợi cho mình. Không thiếu những kẻ chỉ lo rào dậu, xây tường và kiến tạo những bồn đạp nho, nhưng lại chẳng chăm sóc gì đến cây nho, khiến vườn nho Chúa mọc lên những cỏ dại và gai góc.

[Mục Lục]

Bài 8. CÂU CHUYỆN VƯỜN NHO, CÂU CHUYỆN ĐỜI TA

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để thính giả dễ hiểu điều Chúa nói về Nước Trời. Ý nghĩa dụ ngôn này như sau. Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai khiến các tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng họ. Nhưng họ có biết đâu rằng nếu để Chúa là chủ thì vườn nho còn được bảo vệ, được chăm sóc và họ còn được hưởng hoa lợi. Nhưng từ chối quyền làm chủ của Chúa, vườn nho rơi vào cảnh hoang tàn, đổ nát, không còn hoa trái. Và vì thế cuộc đời họ cũng bị diệt vong.

Câu chuyện vườn nho không chỉ nói với người Do Thái mà còn nói với tất cả chúng ta, đặc biệt các sinh viên học sinh nhân dịp đầu năm học mới. Sinh viên học sinh là những cây nho được Chúa ưu ái trồng trong vườn nho của Chúa. Vườn nho đó là Nước Chúa, là Giáo Hội, là gia đình, là trường học. Các cháu thiếu nhi, các bạn thanh niên, học sinh, sinh viên trẻ trung là những cây nho non mơn mởn được Chúa chăm sóc tưới bón trong tình thương bao la của cha mẹ, trong sự tận tâm của thày cô giáo, trong sự nhiệt thành quên mình của các linh mục, tu sĩ nam nữ. Chúa đặt lương tâm như tháp canh để cảnh báo những nguy cơ đe dọa tàn phá vườn nho. Để ngăn chặn thú dữ tàn phá, trẻ con nghịch ngơm, kẻ thù quấy phá, Chúa cẩn thận rào dậu vườn nho. Rào dậu là đặt ra những quy tắc luật lệ. Kỷ luật là phên dậu vững chắc bảo vệ những cây nho còn non yếu, bảo vệ hoa lợi khỏi kẻ thù đến phá hoại. Kỷ luật giúp bảo vệ cuộc đời của các con. Không chỉ bảo vệ sự sống mà còn tất cả những hoa trái tốt đẹp của sự sống. Bảo vệ tương lai của các con. Chúa xây bồn ép nho. Bồn ép nho là nơi làm việc. Quả nho phải trải qua quá trình ép, lọc, ủ mới lên men thành thứ rượu nho thơm lừng làm đẹp cho xã hội. Cũng vậy các con phải lao động vất vả qua nhiều công đoạn mới trở nên hữu ích cho Giáo Hội và cho xã hội. Có thể nói cuộc đời của mỗi người các con là một kỳ quan về tình yêu thương của Chúa. Chúa tạo dựng nên các con để các con được hạnh phúc. Chúa đã định sẵn cho các con một định mệnh tốt đẹp cao quý trong thánh ý Chúa.

Tiếc là có nhiều người không hiểu được điều đó, nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Có nhiều người đã bỏ tháp canh lương tâm nên không còn tỉnh thức trước những nguy cơ đe dọa tàn phá sự sống. Có nhiều người đã phá đổ những phên dậu kỷ luật, biến vườn nho tâm hồn thành bãi đất hoang mặc cho mọi người chà đạp, tàn phá. Có nhiều người đã bỏ quên bồn ép nho, không chịu làm việc, chỉ rong chơi ngày tháng nên cả cuộc đời tiêu tốn biết bao sự thương yêu, tiền bạc, công sức của cha mẹ, thày cô giáo, các bề trên trong Giáo Hội mà không sinh được hoa trái gì cho cuộc đời.

Các con, sinh viên học sinh thân mến,

Đầu năm học mới là dịp các con chỉnh đốn lại vườn nho tâm hồn các con. Hãy để Chúa làm chủ cuộc đời các con. Hãy tin tưởng định mệnh Chúa dành cho các con là định mệnh tốt đẹp nhất. Tương lai Chúa dọn sẵn cho các con là tương lai tươi sáng không gì có thể so sánh được. Hãy đón nhận tình yêu thương của cha mẹ, thày cô giáo, và các bề trên trong Giáo Hội. Tình yêu thương chăm sóc của các ngài là nước mát tưới cho cây đời các con xanh tươi. Hãy tuân theo sự hướng dẫn của tháp canh lương tâm để các con biết phân biệt thật giả, trắng đen, thiện ác giữa lúc vàng thau lẫn lộn, biết chọn lựa con đường tốt đẹp cho tương lai. Hãy sống theo sự hướng dẫn của luật lệ, luật xã hội, luật học đường, luật sự sống, luật Giáo Hội. Đó chính là cách tự bảo vệ trước những lực lượng xấu, trước những cơn cám dỗ ngọt ngào đang rình chờ trói chặt những cuộc đời ẻo lả, mềm yếu, buông tuồng. Hãy làm việc trong bồn ép nho. Sự siêng năng chăm chỉ, lòng say mê học tập chính là chìa khóa của sự thành công.

Năm học mới là một ân huệ nhưng cũng là một trách nhiệm. Các con được ban nhiều, các con sẽ bị đòi hỏi nhiều. Năm học mới được ban tặng để các con sinh lợi. Sinh lợi để xứng đáng với tình thương của Chúa. Sinh lợi để xứng đáng với xã hội, quê hương đất nước. Sinh lợi chính là thăng tiến bản thân, làm lợi cho chính các con trước hết.

Xin Chúa ban phúc lành cho năm học mới để các thày cô giáo, các học sinh sinh viên thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần thăng tiến bản thân, gia đình, Giáo Hội và xã hội. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa đã ban cho bạn sự sống và còn đặt biết bao người, biết bao phương tiện, hoàn cảnh để nuôi dưỡng và phát triển sự sống đó. Bạn có nhận biết điều này không?
2) Bạn có nhìn nhận Chúa làm chủ đời mình và có thái độ xứng hợp không?
3) Phát triển là một trách nhiệm. Bạn có chu toàn trách nhiệm đó không
?

[Mục Lục]

Bài 9. CHÚNG TA ĐƯỢC TRAO PHÓ CANH TÁC VƯỜN NHO THIÊN CHÚA

An Phong

Câu chuyện giữa Thiên Chúa với con người là một câu chuyện tình. Tình yêu thương được trao ban, nhưng không được đón nhận; tình yêu thật quảng đại, nhưng lại bị phản bội cách trắng trợn. Giu-đa lấy cái hôn để nộp Thầy, đó là một sự phản bội lại tình yêu thương làm cho Chúa Giêsu đau lòng biết bao. Tình yêu của Thiên Chúa thật bao la; và sự phản bội tình yêu đó lại là cái gì hết sức phũ phàng. Không có gì đẹp bằng tình yêu, nhưng cũng không có gì ghê gớm hơn tình yêu bị phản bội.

Trong một xã hội “đấu đá nhau”, những trò đời đã nhiều lúc trở nên khủng khiếp lắm rồi; nhưng khi “trò đời” lại diễn ra nơi chính bầu khí của tình yêu, trong gia đình chẳng hạn, thì nó lại trở nên khủng khiếp thế nào: cha mẹ lợi dụng con cái; con cái bất hiếu, bạc đãi cha mẹ, con cái giết cha mẹ cũng có… Quả thật, chính sự phản bội trong tình yêu là một đòn chí mạng khiến con người bị gục ngã. Bao nhiêu bà mẹ đã từng hy sinh mọi sự cho con cái, nhưng rồi cuối đời, những năm tháng về già, đã gục ngã vì sự phản bội, vì sự bất hiếu của đứa con cưng.

Chúng ta được trao phó cho mảnh vườn của Thiên Chúa, cha mẹ được Thiên Chúa trao phó cho một gia đình để chăm sóc; linh mục cũng được Thiên Chúa trao pho cho đoàn chiên; các người có trách nhiệm với dân tộc, với cộng đoàn giáo xứ, với các hội đoàn… đều là những người được Thiên Chúa trao phó vườn nho của Ngài. Cuộc sống này là vườn nho của Thiên Chúa và mỗi người chúng ta là những người làm vườn nho của Thiên Chúa.

Câu chuyện về sự phản bội của tình yêu cho chúng ta thấy rằng Tình yêu cũng chính là cái giá con người phải trả lại cho Thiên Chúa. Ông chủ ban “người con” như một lời mời gọi cuối cùng của tình yêu cho những người tá điền của mình. Không có gì thật sự là tốt đẹp mà không cần trả giá đâu. Sự trả giá ở đây chỉ là lòng trung thành, là mở lòng ra để đón nhận chủ quyền của Thiên Chúa chứ không phải muốn giành lấy gia sản của Người để hưởng thụ cho chính mình.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã trả giá cho đời sống chúng con,

không phải là trả một món nợ nào khác,

nhưng là món nợ của tình thương,

món nợ nặng nề nhất và cay đắng nhất.

Xin cho chúng con biết nhận ra

chúng con cũng mắc nợ nhau trong tình yêu thương

và cũng biết chấp nhận hy sinh vì tình yêu thương.

[Mục Lục]

Bài 10. Người thợ làm vườn nho

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại dụ ngôn “Người thợ làm vườn nho”. Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để giúp người nghe dễ hiểu điều Ngài muốn nói về Nước Trời.

Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Thiên Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai phái các tiên tri đến dạy dỗ họ.

Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm nom săn sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng.

Mỗi người chúng ta hôm nay cũng là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, đó là những tài năng tinh thần, là của cải vật chất, để ta sinh thêm hoa lợi và mang về cho Người..

Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để ta phục vụ Chúa và anh em, chứ không phải để ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.

Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của ta, là để ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.

Thiên Chúa trao phó cho ta các tài năng là để ta sinh lợi cho phần rỗi của mình. Nếu ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì Người sẽ cất đi và trao cho kẻ khác.

Sẽ đến ngày ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó cho ta. Sẽ đến ngày ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc ta đang làm hôm nay.

Lạy Chúa! Xin cho con biết cộng tác vào vườn nho của Chúa, để làm trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện và làm cho Nước Chúa được nhiều người biết đến. Amen.

[Mục Lục]

Bài 11. Từ vườn nho đến các tá điền: Hãy là chính mình

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Sau khi nghe câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “những tá điền sát nhân”, các Thượng Tế và người Pharisêu hiểu là Người nói về họ và họ tìm cách bắt Người. Dân Chúa xưa, đặc biệt những người lãnh đạo, những người được gọi là đạo đức hẳn thuộc nằm lòng bài ca về vườn nho của Ngôn sứ Isaia (Is 5). Mẹ Hội Thánh lại trích cho chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất Chúa Nhật này. Trong khi Ngôn Sứ Isaia nhấn mạnh đến vườn nho là đoàn dân Chúa xưa, thì Chúa Giêsu lại nhấn mạnh đến những tá điền là những người lãnh đạo mà Chúa trao phó quản lý vườn nho. Dù là vườn nho hay là người quản lý thì điểm chung hướng đến, đó là: hãy trở nên chính mình. Nói nôm na là nho thì ra nho, quản lý thì ra quản lý.

Nho ra nho: Ngôn sứ Isaia đã minh nhiên nói rằng vườn nho chính là đoàn dân Chúa xưa và chúng ta có thể hiểu thêm mỗi người chúng ta là những cây nho, là những cành nho (x. Ga 15). Các khâu canh tác như làm cỏ, bón phân, tỉa cành sâu bệnh… thì chủ vườn nho là Thiên Chúa đã vuông tròn. Vấn đề còn lại là chính cây nho phải sinh hoa trái tốt tươi, ngọt ngào. Theo kinh nghiệm nông gia, khi đã đủ đầy các điều kiện tự nhiên và sự chăm bón thì chuyện sinh hoa kết trái của cây trồng, hệ tại ở khả năng cây “hấp thụ dinh dưỡng” từ đất, từ trời và hệ tại ở việc cây “giảm phát sinh để tăng phát dục”, nghĩa là giảm đâm cành, mọc lá mới để tăng ra hoa, kết trái.

Đề hấp thụ dinh dưởng từ trời đất thì chính chúng ta, những cây nho, tiên vàn phải gắn bó, kết hiệp với Thiên Chúa. Cầu nguyện là một trong những phương thế tuyệt hảo để kết hiệp với Thiên Chúa. Để gia tăng hoa trái tốt lành thì việc hãm mình hy sinh là điều không thể thiếu. Như thế để nho ra nho nghĩa là sinh hoa trái ngọt ngào thi Kitô hữu chúng ta cần chuyên chăm cầu nguyện và hy sinh hãm mình. Hằng năm cứ đến mùa Chay thánh thì đề tài ăn chay cầu nguyện được nhấn mạnh và chúng ta nghiệm thấy ngay các hoa trái trổ sinh.

Quản lý ra quản lý: Người quản lý là người được trao phó một sự gì đó. Một việc gì đó để bảo quản, giữ gìn, chăm nom và dĩ nhiên theo tiêu chí mà người chủ yêu cầu. Các tá điền trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể được hiểu như là những người quản lý. Và tiêu chí người chủ đưa ra là đến kỳ thu hoạch, vườn nho phải sai hoa, mộng trái. Theo chiều kích xã hội thì những người quản lý là những người được giao phó các chức vụ của công quyền. Họ được trao phó đoàn dân của một tập thể, của một đất nước… Theo chiều kích tôn giáo, thì những người quản lý là những vị mục tử. Họ đuợc trao phó đoàn chiên là các tín hữu của tôn giáo mình. Dù là các mục tử trong Hội thánh này Hội thánh kia hay là những người nắm giữ công quyền trong xã hội thì chỉ một mình Thiên Chúa là người chủ duy nhất. Thánh Phaolô minh định điều này khi nói rằng các chính quyền hợp pháp đều là do Chúa đặt định (x.Rm 13,1)

Trong khoảng thời gian chờ đến mùa vụ, thì ông chủ thỉnh thoảng sai gia nhân của mình đến nhắc nhở những người quản lý về bổn phận và trách vụ của họ. Và bên cạnh đó chắc chắn có sự đánh giá về những gì mà những người quản lý đang thực thi. Tốt thì khen và khích lệ. Xấu thì chê và phê bình sửa sai. Trong lịch sử dân Chúa xưa, các ngôn sứ chính là những gia nhân mà ông chủ vườn nho đã sai đến. Thay vì nghe những ý chỉ của Thiên Chúa qua các sứ ngôn thì những người tá điền là nhưng người quản lý đã bách hại các ngài.

Thiên Chúa, người chủ vườn nho vẫn kiên trì nhẫn nại đến cùng. Người đã sai chính Con Một đến với hy vọng là những người quản lý kia sẽ nể mặt mà nghe theo. Thế nhưng sự tham lam đã làm cho tâm hồn những người quản lý thành ác độc. Họ đã nhẫn tâm giết chết Người Con Một của ông chủ. Tưởng rằng sẽ từ vị thế quản lý trở thành chủ nhân của vườn nho, nhưng họ đã lầm. Ông chủ sẽ tru di họ và trao vườn nho cho những người khác.

Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã làm chột dạ những vị lãnh đạo DoThái giáo thời bấy giờ. Chuyện dụ ngôn này cũng đã ứng với nhiều triều đại vua chúa các nước trên thế giới. Chuyện dụ ngôn này cũng ứng với những chính phủ nắm giữ công quyền của các quốc gia. Và chuyện dụ ngôn này cũng đáng làm cho các vị mục tử giật mình tự kiểm.

Nho ra nho, quản lý ra quản lý. Nếu không thực là mình thì sẽ đến lúc phải bị loại trừ. Cành nho nào sinh hoa trái sẽ được chăm bón để trái hoa xum xuê thêm nhiều. Cành nào không sinh trái thì phải bị chặt đi. Nó sẽ khô héo và người ta sẽ bỏ nó vào lửa mà thiêu đốt đi (x.Ga 15,6). Người quản lý nào chuyên chăm cứ đến giờ mà phân phát lúa thóc cho kẻ ăn, người ở, thì sẽ được ân thưởng khi chủ về. Trái lại viên quản lý nào chểnh mảng, mãi mê chơi bời ăn uống mà bỏ bê bổn phận, thậm chí còn hành xử bạo lực với người dưới quyền, thì sẽ bị chung số phận với quân bất lương, ở nơi phải khóc lóc và nghiến răng (x.Lc 12,41-48).

[Mục Lục]

Bài 12. Có một chủ vườn kia

“Chủ vườn” là từ quan trọng trong dụ ngôn này, cùng với một từ khác tương ứng với từ đó: “hoa trái”. Người chủ vườn này muốn có những hoa trái đặc biệt. Với lòng quan tâm chăm sóc, ông trồng một vườn nho và mong đợi một mùa thu hoạch tốt đẹp, nhưng các tá điền không có vẻ gì là hoạt động cả. Chủ vườn sai đầy tớ tới: tá điền giết chết họ. Thế là chủ vườn thực hiện một hành vi điên rồ: ông sai chính con trai của mình đến và con trai ông cũng bị giết.

Chúng ta biết rằng người con trai này chính là Chúa Giêsu, nhưng vườn nho này là vườn nho nào? Những thợ làm vườn nho là ai? Chúng ta phải làm gì trong câu chuyện này?

Từ một vườn nho ở trên một sườn đồi, dụ ngôn kể chuyện những tương quan giữa Thiên Chúa và con người, điều mà Tin Mừng gọi là Nước Trời: “Ta sẽ là Chúa của các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta”, Chúa đã nói như thế. Đây là món quà đẹp nhất của Thiên Chúa, ông chủ của mọi sự, người thầy của mọi sự.

Thiên Chúa mong ước ban Nước Trời cho chúng ta. Là tình yêu Thiên Chúa muốn làm cho tất cả mọi người thành một dân tộc của tình yêu. Điều này muốn nói lên hai điều luôn luôn liên kết với nhau một cách chặt chẽ: một dân tộc gồm những con cái được Thiên Chuá yêu thương và yêu thương Thiên Chúa; một dân tộc gồm những người anh em yêu thương nhau. Đó là vườn nho và đó là những mùa hái nho.

Để thực hiện dự định vĩ đại này, Thiên Chúa đã chọn một dân tộc nhỏ làm hạt giống, làm men, đó là Israel. Ngài đã giao phó vườn nho của Ngài, tức là dự án về Nước trời cho dân tộc này.

Thất vọng. Được các vị lãnh đạo tôn giáo dẫn dắt tồi, Israel không sử dụng cho đúng những đặc ân của mình. Chúa sai đến cho Israel những sứ ngôn, những tiên tri, nhưng nước này không nghe họ. Coi thường chủ vườn, các tá điền xấu tin rằng họ có thể một mình làm chủ vườn nho của Chúa. Họ chăm sóc vườn nho không tốt bởi vì các ân sủng của Thiên Chúa chỉ sinh hoa kết quả với Thiên Chúa mà thôi.

Trong một nhiệt tình yêu thương tối hậu, Thiên Chúa sai Con Trai của Ngài để dạy cho các thợ làm vườn nho biết cách làm cho vườn nho của Chúa sinh lợi, biết cách sống vì Nước Trời như thế nào. Nhưng hết rồi, vào cuối Tin Mừng, Chúa Giêsu nhận thấy rằng chính Ngài cũng không được lắng nghe, các nhà lãmh đạo dân chúng muốn bóp nghẹt tiếng nói của Ngài.

Thế rồi Ngài đưa ra một lời đe doạ hoàn toàn không khoan nhượng cho những ai tự xem mình là những người được ưu tiên vĩnh viễn, những người chủ của các ân sủng của Thiên Chúa. Cho tới lúc đó, Chúa thường đe doạ họ và thậm chí sửa phạt họ một cách nghiêm khắc, nhưng không hề có ai dám nói với họ rằng Thiên Chúa sẽ giao phó vườn nho của Ngài cho những người khác. Dầu sao thì đây cũng chính là ý nghĩa của dụ ngôn ghê gớm này mà những từ cuối cùng rơi xuống như một cái máy chém: “Nước Trời sẽ được cất khỏi các ngươi và sẽ được trao cho dân khác làm cho trổ sinh hoa trái”,

Lời đe doạ đã được thực hiện, người Kitô hữu tiếp tục sự nghiệp của người Do thái. Điều này không xoá bỏ sự vĩ đại của dân tộc đã được chọn đầu tiên và vẫn là một dân tộc được chọn này (Rm 11, 28-29). Dân Do thái vẫn tiếp tục loan báo Đấng Tối Cao bằng đức tin sâu xa và thường rất anh hùng của họ. Tiếp theo sau và cùng với dân Do thái chúng ta nên giòng mạc khải Do thái –Kitô giáo. Và dụ ngôn này phải làm cho chúng ta suy nghĩ về sự vĩ đại và trách nhiệm của chúng ta. Thật là một sứ mạng nặng nề! Sống tình yêu, loan truyền tình yêu khắp nơi, tạo ra những kết quả thực sự của Nước Trời. Chúng ta có xứng đáng không? Người Kitô hữu và những nhà lãnh đạo tín hữu có tỏ ra trên khắp thế giới như là những tá điền tốt, những thợ làm vườn nho tốt của ông chủ duy nhất của vườn nho hay không?

[Mục Lục]

Bài 13. Hành động và phản ứng

Những người Biệt phái không sẵn sàng trở lại. Đó là một thái độ thụ động. Nhưng đi xa hơn, họ bước sang hành động quyết định chống lại Đức Kitô. Trong ngụ ngôn thợ làm vườn nho, Thày chí thánh đã mô tả cho chúng ta như sau: Israel là một dân gồm những mục tử và nông dân. Các dụ ngôn Phúc âm là những hình ảnh thu nhặt trong đời sống đồng áng. Trước kia nơi các tiên tri và các thánh vịnh, quốc gia này đã được so sánh với một vườn nho được Thiên Chúa vun trồng săn sóc đặc biệt. Chúa chờ hái lượm những chùm nho chĩu nặng tức là mong thấy bay tỏa hương thơm đạo đức và lòng tùng phục Thiên Chúa. Nhưng ít khi Chúa mãn nguyện. Bây giờ, khi Chúa đến, giờ quyết định của dân tộc đã điểm.

Đó là giờ quyết định thực sự! Bổn phận mà Israel chu toàn lại bị coi như là một cố gắng vô ích sao? Quả thực các vị thủ lãnh dân tộc có một đời sống tôn giáo nông cạn khô khan. Ngoài ra họ bắt đầu công kích Chúa, mặc dầu Ngài đã góp công phục hưng quốc gia. Cha ông họ đã giết các tiên tri, những thừa sai của Thiên Chúa, còn chính họ là con cái lại quyết định giết Chúa.

Theo phương diện lịch sử, giờ quyết định đã điểm vì tất cả quá khứ của Israel hướng về ngay vị cứu tinh xuất hiện. Tất cả những hy vọng quy về vị cứu tinh là tột đỉnh mong đợi. Đây Chúa Cứu Thế đã đến và số phận dân tộc đã biểu lộ. Các thủ lãnh đều có trách nhiệm về điều đó. họ tự quyết chống lại Ngài, vì họ muốn một vị khác đáp lại những đòi hỏi sai lầm của họ. Họ không những đã từ chối, nhưng nhất là công kích đầy căm phẫn nữa. Đấng phải đến cho họ sự phục sinh, lại bị chính họ xử tử.

Lời Chúa đòi p hải có lập trường vững chắc, nhất là khi hành động. Ngược lại với lời nhân loại, lời Chúa bắt phải dấn thân. Người ta có thể gạt bỏ những ý tưởng triết học, gạt bỏ hệ thống suy luận của một tư tưởng gia hay những tác phẩm của văn sĩ. Người ta ít chú ý đến những thứ đó, nên một năm khó lòng mua được một số sách, do đó nhiều khi sách vở phải bán theo giá giấy. Trái lại lời Chúa, tiếng gọi và đòi hỏi, đòi phải chọn lựa khi nghe biết. Không chú ý đến lời Chúa là phủ nhận lời Chúa và như vậy là gạt Chúa sang một bên. Làm như thế tức là tiến thêm một bước nữa về sự dữ. Trong khi chối từ những gì đem lại ơn cứu độ, người ta tự ý hướng về tình trạng khai trừ. Kitô giáo, không phải chỉ loan báo những chân lý để bàn luận hay xác định lập trường tùy tiện. Thiên Chúa mời gọi chúng ta, muốn chúng ta dấn thân phục vụ Ngài. Vì thế từ chối có nghĩa là nổi loạn. Lời Chúa là nền tảng cho đời sống. Ai chối bỏ là chối bỏ chính Chúa: Hòn đá không ở một nơi, nhưng theo Đức Kitô, hòn đá đó sẽ nghiến nát ai chối bỏ nó để ở lại giữa loài người.

Tình trạng cuộc sống không bất động: mỗi hành động nhân loại đều được Thiên Chúa đáp ứng cách khác nhau. Thực ra, Ngài không chỉ sửa phạt, Ngài sẽ không tiêu diệt những ai từ chối, nhưng đôi khi Ngài chịu đựng để biến đổi sự dữ thành sự lành. Trước hành động của kẻ thù, Ngài phản ứng lại theo đức công bình và nhất là phản ứng theo lòng yêu thương.

Adam từ chối Thiên Chúa đã gọi mình, nên đánh mất Thiên Đàng, nhưng đồng thời ông lại được hứa Đấng Cứu Thế. Lỗi phạm, nhờ ơn sủng biến thành lỗi có phúc. Đại hồng thủy đưa đến giao ước với Noe. Tháp Babel biểu thị sự chia rẽ nhân loại, cũng biểu thị ơn gọi của Abraham là người biến Israel thành dân duy nhất của Chúa. Việc bán Giuse sang Ai Cập trở nên sự cứu độ cho anh em. Pharaon cứng lòng đưa dân Chúa đến việc ký kết giao ước với Thiên Chúa. Lịch sử tiếp tục thể hiện cho tới lúc Israel từ chối Đức Kitô, đóng đanh Chúa họ trên núi Calvariô. Sự thất bại tuyệt đối đã được ân sủng tác động để hình thành giao ước mới với toàn thể nhân loại, và hy tế cứu độ của Chúa. Trong suốt lịch sử Giáo Hội, máu các vị tử đạo không ngừng trở nên hạt giống làm trổ sinh những kitô hữu mới. Cho tới ngày chung cuộc, việc xuất hiện người chống lại Đức Kitô sẽ kêu mời Đức Kitô tái giáng. Trái đất bị chúc dữ sẽ báo hiệu một thế giới mới, để tất cả tăm tối sẽ bị ánh sáng toàn thắng. Tất cả sự chết sẽ bị sự sống thống trị, tội lỗi sẽ bị ơn sủng chế ngự. Hòn đá bị thợ ném đi, được Chúa can thiệp để trở nên hòn đá góc. Và nước Chúa được ban cho một dân tộc ưu tú mới, vườn nho được phó thác cho những người thợ mới; những người ấy nhờ tác động của ơn sủng, sẽ gặt hái hoa trái chín mọng do ơn Chúa. Vậy, những hầm rượu và kho lẫm Thiên Chúa được tràn đầy phong phú, rồi những kẻ ưu tú được lệnh trao hoàn cho Ngài. Tất cả biến thành ơn sủng.

[Mục Lục]

Bài 14. Chủ vườn nho

Số phận của những kẻ chống lại chủ vườn nho sẽ như thế nào?

Mặc dù đoạn Tin Mừng không nói rõ, nhưng chúng ta cũng thấy được qua câu trả lời của những người nghe Chúa Giêsu:

- Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ đến mùa, họ sẽ nộp phần hoa lợi.

Từ câu trả lời này, chúng ta bước vào lãnh vực siêu nhiên. Vậy số phận của những kẻ chống lại Thiên Chúa sẽ như thế nào? Chúa Giêsu cũng đã từng lên tiếng về vấn đề này:

- Viên đá bị thợ xây loại bỏ, sẽ trở thành viên đá góc tường. Hễ ai vấp ngã trên viên đá này, thì kẻ ấy sẽ bị dập nát và hễ viên đá này đè lên ai, thì kẻ ấy sẽ bị tan xương.

Câu nói này làm cho chúng ta liên tưởng tới lời cảnh cáo của Chúa Giêsu được gửi tới cho Phaolô trên con đường đi Đamas:

- Khốn cho ngươi, nếu ngươi giơ chân đạp mũi nhọn.

Kinh nghiệm đau thương này đã được thực hiện qua giòng thời gian nơi các dân tộc cũng như nơi những cá nhân.

Trước hết là nơi các dân tộc.

Tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình. Trường hợp thứ nhất, đó là trường hợp của dân Do Thái.

Trong Cựu ước, họ là một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu thương cách đặc biệt. Thế nhưng mỗi khi họ quay lưng chống lại Ngài, bằng cách sống bê tha tội lỗi và nhất là quì gối thờ lạy những thần tượng nhảm nhí, thì lập tức đất nước họ bị quân thù dày xéo còn bản thân họ thì bị đi lưu đày, vì khốn cho ngươi, nếu ngươi giơ chân đạp mũi nhọn.

Trong Tân ước, họ là một dân tộc được nghe những lời Ngài truyền dạy và được thấy những việc kỳ diệu Ngài đã làm, thế nhưng cõi lòng họ vẫn chai đá, để rồi những lời Chúa cảnh cáo chỉ là như một thứ nước đổ đầu vịt mà thôi. Họ chống đối Chúa, họ vu oan cho Chúa và sau cùng họ đã giết chết Chúa một cách ô nhục trên thập giá. Nhưng rồi sau đó vào năm 70, thủ đô Giêrusalem đã bị tàn phá bình địa dưới sức mạnh của quân đội La Mã do tướng Titus chỉ huy. Còn bản thân họ thì phải rời bỏ quê hương, tản mát khắp bốn phương trời, mãi cho đến năm 1950, nhờ áp lục quốc tế, họ mới được trở về khôi phục lại đất nước, vì khốn cho ngươi, nếu ngươi giơ chân đạp mũi nhọn.

Trường hợp thứ hai là nước Pháp trong cuộc cách mạng vào năm 1789. Những kẻ khởi xướng cho cuộc cách mạng này đã bài xích Giáo hội, chối bỏ Thiên Chúa, coi lý trí là thần tượng tuyệt đối có thể giải quyết được mọi vấn đề. Thế nhưng hậu quả mà cuộc cách mạng này đã đem lại như thế nào thì lịch sử đã cho chúng ta thấy: máy chém mọc lên ở khắp nơi, rồi cướp của giết người xảy ra ở khắp chốn, đến nỗi chịu không nổi cảnh tượng hỗn độn vô trật tự ấy, Robespierre đã phải truyền dán trên khắp các ngả dường những tấm bích chương với hàng chữ: Nhân dân Pháp tin vào Thiên Chúa. Quả thực, khốn cho ngươi, nếu ngươi giơ chân đạp mũi nhọn.

Bây giờ xuống tới lãnh vực cá nhân, số phận của những kẻ chối bỏ Thiên Chúa cũng không hơn gì. Tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình.

Trường hợp thứ nhất là trường hợp của Mirabeau. Ông là người đi tiên phong cho cuộc cách mạng Pháp, hăng hái đả phá Giáo hội và chối bỏ Thiên Chúa. Nhưng rồi sau đó, ông đã phải đau khổ và tuyệt vọng, nhất là khi phải đối đầu với cái chết. Ông đã chết bằng một cái chết đớn đau và điên khùng.

Trường hợp thú hai là trường hợp của Voltaire. Suốt đời, ông đã tìm cách hạ bệ Thiên Chúa và Giáo hội. Chính ông vàp năm 1753 đã viết: Thiên Chúa phải về hưu vì đã hết thời. Đúng hai mươi năm sau, nghĩa là vào năm 1773 ông đã chết một cách thê thảm, tru tréo như một con chó dại, đến nỗi bà giúp việc phải thốt lên: Nếu quỉ có thể chết, thì cũng không chết một cách dữ tợn hơn Voltaire. Thiên Chúa vẫn còn mãi, nhưng khốn cho ngươi, nếu ngươi giơ chân đạp mũi nhọn.

Từ những sự việc cụ thể xảy ra cho cá nhân cũng như cho dân tộc, tôi muốn đi tới một kết luận:

- Xe trước đã đổ, thì xe sau phải coi chừng.

Xem người phải nghĩ đến thân, bẳng không, nếu cứ bình chân như vại, đắm chìm trong tội lỗi, chắc chắn số phận chúng ta cũng sẽ không hơn gì bởi vì chủ vườn nho sẽ triệt hạ hết những kẻ xằng bậy và sẽ trao vườn nho cho người khác. Như thế có nghĩa là Nước Trời sẽ bị cất khỏi bàn tay chúng ta, đề rồi chúng ta sẽ bị trầm luân muôn kiếp.

[Mục Lục]

Bài 15. Làm việc

Bài Tin Mừng là một dụ ngôn và cũng là một ám ngôn, vì vừa hình dung vừa diễn tả sự thật, vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách tiên tri. Vườn nho ám chỉ nước Chúa, được trao cho dân Do Thái. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Những người thợ làm vườn nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là hàng loạt các ngôn sứ được Thiên Chúa phái đến đều bị ngược đãi hoặc giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, nước Chúa được chuyển sang một quốc gia khác là Hội Thánh, một dân phổ quát và Công giáo, sẽ lan tràn đến tất cả mọi quốc gia.

Chúng ta thấy dụ ngôn vừa có tính cách lịch sữ vừa có tính cách tiên tri, nghĩa là một đàng diễn tả những biến cố có thực, là những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử dân Do Thái, và thái độ của dân Do Thái đối với những ngôn sứ Chúa sai đến với họ. Đàng khác, nói tiên tri về đạo Chúa sẽ lan tràn khắp các dân không phải dân Do Thái. Hơn nữa, dụ ngôn cũng cho chúng ta thấy rõ thân thế và sứ mạng của Chúa Giêsu. Những người được sai đến trước Ngài, dù nổi tiếng đến đâu như Elia, Isaia, Giêrêmia, Gioan Tiền Hô… cũng chỉ là đầy tớ, còn Ngài mới là con trai duy nhất của Chúa Cha. Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay có nhiều điều đáng lưu ý và ghi nhớ. Sau đây chúng ta tìm hiểu một điều thôi, đó là các tá điền làm vườn nho. Bài Tin Mừng cho biết: ông chủ vừa trồng xong vườn nho, lẽ ra ông phải chăm bón để kiếm hoa lợi, nhưng ông lại cho các tá điền canh tác để đến mùa thu hoa lợi. Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông chủ. Chúng ta có thể áp dụng như sau: mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận phải đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.

Thực vậy, những ơn phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết sử dụng chúng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người được Chúa trao ban cho một vốn liếng khác nhau về nơi chốn, thời gian, khả năng, dịp tiện. Mỗi người, không ai giống ai cả, nhưng ai cũng phải làm lợi ra với số vốn liếng Chúa ban. Chúng ta không giống nhau về khả năng, nhưng có thể giống nhau về cố gắng. Thà cố gắng mà không có tài còn hơn có tài mà không cố gắng làm lợi cho Chúa.

Vậy mọi người chúng ta đều có một điều giống nhau, đó là đời sống để làm việc: việc lớn, việc nhỏ. Đa số chúng ta ai cũng muốn làm việc lớn, được nhiều lợi, được người khác biết đết. Nhưng Chúa bảo chúng ta hãy làm việc nhỏ. Chúng ta cần trung tín trong việc nhỏ bé trước đã. Chỉ khi nào chúng ta làm được những việc nhỏ bé, chúng ta mới có khả năng làm những việc lớn lao hơn. Những việc nhỏ chính là nấc thang đưa tới thành công lớn. Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết họ không làm được những việc nhỏ cho Ngài. Nếu chúng ta không trung thành trong việc nhỏ thì không ai tin tưởng trao cho chúng ta việc lớn hơn. Chúng ta hãy nhớ: không có việc gì quá nhỏ mà không đáng làm, và cũng không có việc gì quá nhỏ mà không đem lại lợi ích. Vấn đề là chúng ta có chịu làm hay không.

Có một câu chuyện ngụ ngôn, với tựa đề là “vị thiên thần dễ tính” kể lại như sau: Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền vạn năng của Thiên Chúa. Vị thiên thần đồng ý. Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện: “Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”. Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng. Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được. Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khoẻ cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khoẻ ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.

Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tới những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm: “Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời của mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thuỷ, một người cha hiền tận tuỵ với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.

Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Tóm lại, chúng ta hãy siêng năng làm việc để chu toàn bổn phận của mình. Chúng ta hãy tận dụng tài năng, sức lực, thời giờ, của cải Chúa ban để xây dựng sự nghiệp đời này và sự nghiệp đức tin trên nước trời.

[Mục Lục]

Bài 16. Tá điền và vườn nho

Có một bản tin gây nhiều xúc động, đó là: một thanh thiếu niên phạm pháp được trả tự do lạm thời, nhờ hạnh kiểm tốt trong thời gian bị giam tù. Vì không còn cha mẹ, nên em này được một người trong vùng nhận làm con nuôi và em được đối xử tốt đẹp như năm người con khác trong gia đình, không chút kỳ thị phân biệt. Cha mẹ nuôi cũng như anh chị em mới trong gia đình cố gắng làm hết mọi sự để giúp em cảm nhận được tình yêu thương chân thành trong gia đình mới.

Một hôm, em được phép cha mẹ cho đi tham dự buổi tiệc sinh nhật của người bạn với lời nhắn nhủ là “hãy trở về nhà trước 11 giờ khuya”. Nhưng 11 giờ, rồi 12 giờ và 1 giờ sáng mà em vẫn chưa về. Mọi người trong nhà đã đi ngủ, chỉ trừ cha mẹ nuôi của em canh thức đợi em về với nhiều lo tắng, cuối cùng 2 giờ sáng em mới về tới nhà. Không một lời giải thích hay xin lỗi cha mẹ nuôi gì cả, nhưng phần cha mẹ nuôi chỉ trách nhẹ em một câu: “Này con, lần sau con ráng về đúng giờ để cha mẹ không phải lo lắng đợi chờ con nữa”.

Sáng hôm sau, khi mọi người trong gia đình kẻ đi làm người đi học, chỉ còn lại mẹ nuôi ở nhà, và bất ngờ, người thiếu niên này dùng một khúc sắt từ sau lưng tiến lại đập đầu người mẹ nuôi của em. Trước toà án, em không chút hối hận và người cha nuôi của em trong cơn đau khổ tột cùng chỉ thốt lên một lời: “Nó đã giết chết người vợ thân yêu của tôi. Đây là một hành động vô ơn tột cùng”.

Sự việc trên có thể giúp chúng ta phần nào hiểu thấu được dụ ngôn: “Người tá điền và vườn nho” được nhắc lại trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó là thái độ vô ơn tột cùng của những người giữ vườn nho đáng trách, họ đã khước từ và giết hại những người làm mà ông chủ sai đến, rồi cuối cùng họ cũng giết chết luôn cả người con của ông chủ.

Thái độ vô ơn tột cùng này cũng là một lời cảnh tỉnh cho mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay, qua đó nhắc nhở chúng ta hãy xét lại thái độ sống của mình đối với Thiên Chúa. Như ông chủ vườn nho, Thiên Chúa nhân lành luôn thông cảm và tha thứ những lỗi tầm của chúng ta, một khi chúng ta biết trở về với Ngài.

Mặt khác, Thiên Chúa trao cho chúng ta công việc chăm sóc vườn nho của Ngài, để chúng ta làm trổ sinh hoa trái tốt đẹp. Hơn nữa, Ngài đã không ngừng sai những sứ giả của Ngài đến để nhắc nhở chúng ta tích cực chăm sóc vườn nho cho Ngài. Vì thế chúng ta phải có bổn phận biết ơn là dâng lại cho Ngài những điều tốt đẹp, những chùm nho ngon ngọt của việc làm tốt mà chúng ta phải thực hiện trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng, có thể thay vì dâng cho Ngài những chùm nho ngon ngọt, thì chúng ta lại có những thái độ thù nghịch chống lại Ngài, chống lại Thiên Chúa, chống lại những sứ giả mà Ngài đã sai đến với chúng ta.

Vậy, thử hỏi còn điều gì có thể làm được cho con người mà Thiên Chúa đã không làm để cứu rỗi, để hướng dẫn và ban hơn nữa cho chúng ta hay không?

Chính Ngài đã sai Con Một Ngài đến cứu rỗi chúng ta, và hy vọng con người sẽ không giết hại Con Ngài, nhưng sẽ tắng nghe lởi Người: “Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe lời Ngài”.

Thật thế những kẻ vô tâm, bất nhân bất nghĩa đã làm việc bất nhân, thay vì dâng lời cảm lạ Thiên Chúa thì lại giết chết Con Thiên Chúa, giết chết người ân nhân vĩ đại của cuộc đời mình. Xin Chúa ban ơn biến đổi cho mỗi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết tắng nghe liếng Chúa trong mọi hoàn cảnh sống của cuộc đời.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ khẩn cầu Chúa ban cho mỗi người chúng con được bắt chước gương sống của Mẹ: Khiêm tốn, vâng phục, chấp nhận thưa “xin vâng” với Chúa trong mọi nghịch cảnh của cuộc đời: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Ngài truyền”. Nhất là chúng con xin Mẹ giúp cho mỗi người chúng con luôn luôn sống trong thái độ biết ơn Thiên Chúa, cố gắng hết mình để làm vườn nho mà Ngài đã trao phó cho mỗi người chúng con, để cây nho được trổ sinh nhiều hoa trái tốt đẹp. Xin Thiên Chúa gìn giữ mỗi người chúng con trong đức tin mà giờ đây chúng con cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

[Mục Lục]

Bài 17. Được và mất

Chuyện ngụ ngôn “Lừa và Sói” kể rằng: Một hôm, lừa đang gặm cỏ, bỗng thấy Sói phi nước đại phóng tới. Lừa giả bộ đi khập khiễng. Khi Sói đến gần, hỏi nó vì sao bị thọt chân, thì Lừa trả lời:

- Vừa nãy tôi nhảy qua hàng rào bị xóc gai.

Rồi Lừa đề nghị Sói trước khi ăn thịt mình hãy nhổ gai ra đã, để khỏi bị gai đâm.

Sói tin lời, Lừa giơ cao chân để Sói soi mói kỹ lưỡng các móng chân Lừa. Lừa thừa cơ đạp mạnh vào mõm Sói rồi bỏ chạy.

Sói bị gẫy hết răng ôm đầu kêu la.

- Đáng đời ta! Cha mẹ nuôi ta thành kẻ chuyên ăn thịt, chứ đâu dạy ta làm thày lang!

Nếu chuyện ngụ ngôn nào cũng cho chúng ta một bài học, thì chuyện ngụ ngôn “Lừa và Sói” muốn nói với chúng ta: Kẻ nào không làm đúng công việc của mình sẽ lãnh hậu quả bi thảm.

Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn “Những người thợ làm vườn nho”. Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, là những tài năng tinh thần, của cải vật chất, để chúng ta đem hoa lợi về cho Người. Thiên Chúa còn tôn trọng chúng ta, Người để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc, theo sáng kiến riêng của mỗi người. Thánh Matthêu viết: “Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa”. Người không ở đó để kiểm soát, canh chừng.

Khốn thay, có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông. Những tá điền ấy đã ngược đãi và sát hại các đầy tớ mà chủ sai đến. Thậm chí, đến lần thứ ba chúng giết luôn cả con trai ông. Họ làm như thế là để chiếm lấy gia tài của chủ. Hậu quả là: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”.

Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để chúng ta phục vụ Chúa và anh em, chứ không phải để chúng ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.

Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của chúng ta, là để chúng ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để chúng ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.

Thiên Chúa trao phó cho chúng ta các tài năng là để chúng ta sinh lợi cho phần rỗi mình. Nếu chúng ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì Người sẽ cất đi và trao cho kẻ khác. Nỗi bất hạnh ấy chỉ mình ta gánh chịu mà thôi!

Sẽ đến ngày chúng ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó. Sẽ đến ngày chúng ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc chúng ta đang làm hôm nay. Đức Hồng Y Suhard đã nói: “Chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm”.

[Mục Lục]

Bài 18. Tá điền vườn nho

Nhân cơ hội các thượng tế và các kỳ lão chất vấn Chúa Giêsu về việc Người lấy quyền nào mà đánh đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ, Chúa Giêsu đã dùng ba dụ ngôn để nói với các ông như những lời cảnh giác về sự cứng lòng của họ. Dụ ngôn tá điền gian ác là một trong ba dụ ngôn ấy.

Như đã nói ở trên, câu chuyện dụ ngôn Đức Giêsu kể trực tiếp nhắm vào các thượng tế và kỳ lão. Họ là những người được Thiên Chúa trao phó trách nhiệm chăm sóc vườn nho là dân riêng của Chúa. Nhưng thay vì mang hoa lợi về cho chủ là Thiên Chúa, họ lại muốn chiếm đoạt hoa lợi ấy cho mình. Vì thế, những sứ giả được Thiên Chúa sai đến là các ngôn sứ đều bị họ giết chết. Cuối cùng ngay cả Người con duy nhất của Thiên Chúa là Đức Giêsu cũng bị họ đóng đinh và treo Người trên cây thập giá. Họ nghĩ rằng chỉ khi làm như thế họ mới chiếm đoạt được trọn quyền thừa kế và hưởng lợi lộc từ vườn nho.

Ý nghĩa cụ thể của dụ ngôn là như thế. Nhưng chúng ta cần nội tâm hóa câu chuyện để có thể lắng nghe được tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho chính mình chứ không phải chỉ cho những người xa lạ ở vào những thời đại xa xưa.

Như ông chủ trao phó vườn nho cho các tá điền, Thiên Chúa cũng tín nhiệm trao phó cho ta chăm sóc những vườn nho của Người. Vườn nho ấy là chính cuộc đời của riêng ta, là những cộng đoàn mà ta phải phục vụ, là những trách nhiệm mà ta phải hoàn thành.

Như ông chủ vườn nho đã dựng hàng rào, đã xây tháp canh để bảo vệ vườn nho, đã lắp đặt máy ép nho để giúp cho công việc của tá điền được dễ dàng, nhờ đó họ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Khi trao cho ta những nhiệm vụ, Thiên Chúa cũng ban cho ta phương tiện là những ân huệ cần thiết để chúng ta thực hiện tốt công việc được trao.

Trao vườn nho rồi, ông chủ đi xa một thời gian. Ông tin tưởng các tá điền sẽ làm cho vườn nho sinh hoa kết trái. Thiên Chúa cũng tin tưởng ở chúng ta khi trao cho chúng ta những trách nhiệm. Người không trực tiếp giám sát chúng ta như những anh công an. Người cũng không phải là một ông chủ chuyên chế áp đặt tự do và giết chết sáng kiến của chúng ta. Người tôn trọng chúng ta như những người trưởng thành và để chúng ta tự do làm việc. Người tin tưởng ở tinh thần trách nhiệm của chúng ta.

Sau một thời gian vắng nhà, khi trở về, ông chủ sai các đầy tớ đến thu hoa lợi của vườn nho. Sẽ tới ngày chúng ta cũng phải tính sổ với Thiên Chúa về những công việc được trao phó. Người hỏi chúng ta về hoa trái của những công việc đã được trao. Người hỏi chúng ta về tinh thần trách nhiệm.

Những người tá điền đã giết chết các tôi tớ của ông chủ. Hành vi này tượng trưng cho sự khước từ Thiên Chúa của chúng ta. Có thể chúng ta đã từng loại trừ Thiên Chúa vì nghĩ rằng Người là một ông chủ hà khắc, hay đòi hỏi, hay quấy nhiễu con người.

Thay vì tiêu diệt các tá điền, ông chủ lại sai thêm các đầy tớ khác. Điều này nói lên lòng nhân từ và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Người không trừng phạt chúng ta khi chúng ta phản nghịch và chống lại Người, nhưng Người ban cho ta nhiều cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm và để trả lời cho tiếng gọi của Người.

Không nhận ra được lòng nhân từ của ông chủ, những người tá điền lại giết chết cả những anh đầy tớ này. Đó chính là thái độ cố chấp sống trong tội lỗi của chúng ta. Tội lỗi là sự bất tuân lệnh của Thiên Chúa, là cố ý chống lại Thiên Chúa, cố ý đi ra khỏi con đường của Người.

Không ngã lòng, ông chủ còn sai con trai mình đến với những người tá điền. Và họ cũng giết chết luôn cả anh con trai này. Họ bàn bạc với nhau rằng: Phải giết anh con trai thừa tự này đi để chúng ta chiếm lấy vườn nho. Thì ra tội lỗi của những người tá điền không phải là không làm cho vườn nho sinh hoa kết trái mà là muốn chiếm đoạt vườn nho của ông chủ. Thiên Chúa đã dùng mọi phương cách để cứu vớt con người. Người đã chơi ván bài chót là liều hy sinh chính Con Một của Người để thức tỉnh con người. Nhưng con người luôn muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời mình để có thể sử dụng cuộc đời, để định đoạt mọi sự theo ý mình muốn. Chúng ta làm việc này việc khác không phải vì quyền lợi của Thiên Chúa mà chỉ vì ích lợi của bản thân mình. Chúng ta muốn chiếm đoạt những gì thuộc về Thiên Chúa để làm của riêng mình.

Chính trong ý nghĩa nói trên mà câu chuyện dụ ngôn cũng là câu chuyện của đời thường và câu chuyện của ngày xưa cũng là câu chuyện của ngày hôm nay. Hàng ngũ lãnh đạo Do thái giáo ngày xưa đã loại trừ và đã giết chết Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để chỉ cho họ con đường về Trời. Vụ án giết Con Thiên Chúa vẫn còn kéo dài qua mọi thời cho tới ngày hôm nay. Và lý hình giết con Thiên Chúa có thể là mỗi người chúng ta. Điều đó thật là đáng sợ.

[Mục Lục]

Bài 19. ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊSU: VIÊN ĐÁ GÓC BAN ƠN CỨU ĐỘ
Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 21,33-43

2. Ý CHÍNH: DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN

Đức Giê-su đã dùng du ngôn “Những tá điền sát nhân” này để cảnh cáo các đầu mục Do Thái. Câu chuyện kể về bọn tá điền gian ác, đã được chủ vườn ưu ái trao quyền canh tác vườn nho, nhưng lại rắp tâm chiếm đọat bằng việc không chịu nộp phần hoa lợi như đã thỏa thuận. Ho đã bách hại các đầy tớ do chủ sai đến và còn giết chết chính con trai ông chủ. Số phận của bọn tá điền gian ác là sẽ bị ông chủ trừng phạt đích đáng và vườn nho được trao cho tá điền khác biết chu tòan các thỏa thuận đã ký kết.

3. CHÚ THÍCH:

- C 33: + Các ông: Ở đây ám chỉ các thượng tế và kỳ mục Do Thái ở Giê-ru-sa-lem. + Gia chủ và vườn nho: Trong sách ngôn sứ I-sai-a, vườn nho ám chỉ dân Ít-ra-en và chủ vườn nho là Thiên Chúa (x. Is 5,1-4). Còn trong dụ ngôn này, vườn nho lại ám chỉ Nước Thiên Chúa do Đức Giê-su thiết lập. + Rào giậu chung quanh, khoét bồn đạp nho và xây một tháp canh: Khi liệt kê các việc ông chủ đã làm cho vườn nho, Đức Giê-su nhấn mạnh đến sự quan tâm và quyền sở hữu tuyệt đối của chủ vườn nho qua các việc như: rào giậu là cách bảo vệ khỏi bị người khác lấn chiếm; bồn đạp nho hay hầm ép rượu là một cái hố được đục khoét sâu vào tảng đá lớn, nho được đạp dập cho chảy ra nước cốt. Nước cốt này chảy qua máng vào một thùng lớn và được ủ trở thành rượu. Tháp canh là vọng gác luôn có người canh để đề phòng kẻ trộm. + Cho tá điền canh tác: Tá điền ám chỉ các đầu mục dân Do thái đã được Thiên Chúa trao phó trách nhiệm chăn dắt dân Ít-ra-en. Nhưng họ đã đưa dân này vào con đường thất tín và bất trung với Giao ước đã ký kết với Thiên Chúa.

- C 34: + Gần đến mùa hái nho: Gần đến nhắc ta nghĩ đến lời giảng “Nước Trời đã đến gần” của Gio-an Tẩy Giả và của Đức Giê-su (x. Mt 3,2; 4,17). Mùa hái nho là thời gian Thiên Chúa sẽ đến tính sổ với dân Ngài. + Ông sai đầy tớ đến gặp tá điền để thu hoa lợi:Đầy tớ ám chỉ các ngôn sứ Cựu Ước đã được Thiên Chúa sai đến kêu gọi dân Ít-ra-en sám hối để làm con dân của Thiên Chúa.

C 35-36: + Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: Dân Ít-ra-en đã bắt bớ giết hại các ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến kêu gọi họ giữ Giao ước. + Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ: Các hình khổ của bọn tá điền làm đối với những gia nhân do chủ sai đến theo thứ tự từ nhẹ đến nặng: Đánh, giết, ném đá. Ném đá cũng là một cách giết chết, nhưng kèm thêm sự nhục nhã và đau đớn hơn nhiều. Điều này cho thấy sự chống đối của dân Ít-ra-en đối với các ngôn sứ ngày một gia tăng. Đó là thứ tội bất trung và xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa. + Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước. Nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy: Qua câu này ta thấy có hai loại ngôn sứ là ngôn sứ tiền và ngôn sứ hậu. Việc gửi các ngôn sứ hậu đông hơn ngôn sứ tiền, diễn tả lòng khoan dung kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en. Dù bị họ phản bội bất trung, nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi, mà vẫn tiếp tục sai các ngôn sứ khác đến cảnh cáo, ngăm đe, để giúp họ hồi tâm sám hối. Nhưng họ vẫn cố chấp giết hại các vị ấy.

- C 37-39: + Sau cùng: Đây là cơ may cuối cùng để bọn tá điền hồi tâm sám hối. + Ông sai chính con trai mình đến: Con trai ông chủ ám chỉ Đức Giê-su, vì nhiều lần Người đã xưng mình là Con Thiên Chúa (x. Mt 14,32; 16,16). + Đứa con thừa tự đây rồi: Khi thấy con ông chủ đến, bọn tá điền lập tức nhận ra kẻ thừa tự. Họ đã hành động với đầy đủ ý thức và tự do nên tội của họ rất nặng. Còn về các đầu mục dân Ít-ra-en tuy không tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa (x. Mt 27,43) vì lầm chẳng biết (x Lc 23,34), nên tội của họ có thể được nhẹ đi phần nào. + Nào ta giết quách nó đi và đoạt lấy gia tài nó: Lỗi nặng nhất của các tá điền là không bhững không tiếp nhận mà còn giết hại các đầy tớ và chính người con thừa tự do chủ vườn sai đến với họ. Tội đó phát xuất từ ý muốn chiếm đoạt vườn nho. Đây cũng là lời cảnh báo chúng ta: Mỗi lần ta biến các việc thuộc về Chúa trở thành việc riêng của mình để trục lợi, là ta đã chiếm đoạt vườn nho của Chúa làm của riêng ta, như bọn tá điền làm trong Tin Mừng hôm nay. + Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi: cái chết của người con trai ông chủ do bọn tá điền làm, ám chỉ cái chết của Đức Giê-su ngoài thành Giê-ru-sa-lem lúc cuối đời Người.

- C 40-41: + Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?: Đặt câu hỏi này, Đức Giê-su muốn cho các đầu mục dân Do Thái nhận định điều gì phải quấy. + Họ đáp: “Ác giả ác báo !: Họ cũng trả lời đúng với ý của ông chủ là phải trừng phạt bọn tá điền gian ác kia. + Cho các tá điền khác canh tác vườn nho: Tá điền khác ám chỉ dân Ít-ra-en Mới là Hội Thánh. Hội Thánh sẽ thay thế dân riêng Ít-ra-en để thừa hưởng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa.

- C 42-43: + Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao?: Đây là câu trích trong sách Thánh vịnh (x. Tv 118,22-23), gần giống với lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a (x Is 28,16). Sau này thánh Phê-rô đã ám chỉ câu này về mầu nhiệm Đức Giê-su Phục sinh, Đấng sẽ thiết lập dân mới của Thiên Chúa (x. Cv 4,11; 1 Pr 2,4-8). + Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ…: Tảng đá bị thợ xây loại bỏ ám chỉ Đức Giê-su bị bọn đầu mục Do thái sát hại, đã được Thiên Chúa nâng lên địa vị làm “Chúa” muôn loài sau cuộc tử nạn và phục sinh của Người (x. Pl 2,8-11). + Mà ban cho một dân tộc: không nhất thiết là dân ngoại, nhưng một dân mới là Hội Thánh, gồm các dân tộc tin thờ Thiên Chúa và tin vào Đức Giê-su (x. Rm 9,25; 1 Pr 2,10). Chính dân mới này sẽ thay chỗ của dân Ít-ra-en bất trung. + Biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi: Hoa lợi là phần rỗi đời đời. Tóm lại: Giao ước mới (Tân ước) sắp được ký kết giữa Thiên Chúa với loài người trong Máu Con Chiên Thiên Chúa là Đức Giê-su, sẽ thay thế Giao ước cũ (Cựu ước) được ký kết giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en trong máu chiên bò thời Mô-sê.

4. CÂU HỎI:

1) Ý nghĩa của vườn nho trong sách ngôn sứ I-sai-a và trong Tin mừng Mat-thêu khác nhau thế nào? 2) Trong dụ ngôn, ông chủ vườn nho đã biểu lộ lòng yêu mến dành cho vườn nho của mình qua những hành động nào? 3) Bọn tá điền trong dụ ngôn ám chỉ những ai và họ đã thi hành nhiệm vụ thế nào? 4) Đầy tớ được chủ sai đến thu hoa lợi vườn nho ám chỉ những ai? 5) Bọn tá điền đã đối xử thế nào đối với các đầy tớ do chủ vườn sai đến? 6) Sự khoan dung nhẫn nhịn của chủ vườn nho thể hiện qua hành động nào? 7) Sau cùng chủ vườn nho đã sai ai đến và nhằm mục đích gì? 8) Bọn tá điền hè nhau giết hại con trai ông chủ nhằm mục đích gì? Cái chết của con trai ông chủ vườn trong dụ ngôn ám điều gì sẽ xảy ra cho Đức Giê-su sau này? 9) Câu “Ác giả ác báo” ám chỉ về ai trong dụ ngôn? 10) Tảng đá bị bọn thợ xây lọai bỏ ám chỉ ai và điều gì sẽ xảy ra cho Người? Dân tộc khác ở đây là dân nào? Làm cho sinh hoa lợi nghĩa là gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Tôi nói cho các ông hay: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21,43).

2. CÂU CHUYỆN: VỀ MỘT ÔNG VUA THAM LAM

Sách Các Vua (x. 1 V 21,1-16) thuật lại câu chuyện về lòng tham của một ông vua như sau:

Trong thời kỳ các vua, ở Sa-ma-ri có một người tên là Na-vót. Ông là chủ đang canh tác một vườn nho. Bấy giờ vua của Sa-ma-ri là A-kháp đã sai người đến yêu cầu Na-vốt nhượng lại vườn nho ấy để làm vườn rau, vì nó nằm cạnh cung điện của nhà vua. Bù lại, vua sẽ cho ông ta một vườn nho khác tốt hơn. Hoặc nếu muốn, nhà vua sẽ trả bằng bạc theo giá thỏa thuận. Nhưng Na-vốt đã từ chối không bán vườn nho cho vua, với lý do đó là đất hương hỏa của tổ tiên để lại. Vua A-Kháp rất tức giận và buồn rầu. Nhà vua vào nằm quay mặt vào trong giường không chịu ăn uống gì cả. Bấy giờ hoàng hậu I-de-ven nghe biết đã đến an ủi vua. Bà hỏi lý do tại sao nhà vua lại buồn rầu và bỏ ăn như thế. Vua liền kể lại sự thể do Na-vốt đã không bán vườn nho cho mình. Nghe xong, hoàng hậu I-de-ven đã hứa sẽ tặng không cho vua vườn nho ấy. Rồi bà nhân danh vua A-kháp viết một bức thư, dùng con dấu của vua đóng ấn trên đó, rồi sai người mang đến nhà các kỳ mục và thân hào trong thành. Trong lá thư, bà đã đề ra một kế hoạch chi tiết để họ làm theo. Đó là xúi người đứng ra cáo gian Na-vốt đã dám nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua, rồi hội đồng sẽ xét xử và kết án Na-vốt bị ném đá chết. Dân chúng, kỳ mục và thân hào trong thành đã làm đúng theo kế hoạch hoàng hậu đã vạch ra cho họ. Sau khi Na-vốt chết, hoàng hậu liền đến gặp và giục vua chiếm lấy vườn nho của Na-vốt.

3. SUY NIỆM:

1) Về sứ mạng cứu độ của Đức Giê-su:

Đức Giêsu có sứ mạng thiết lập Triều đại của Thiên Chúa hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Đây là một Vương quốc bình an, hạnh phúc và đầy tràn tình thương. Nước Thiên Chúa bắt đầu trong lòng mỗi người như Đức Giê-su đã nói: «Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông» (Lc 17,21), rồi từ đó lan rộng ra xã hội để làm thành một Vương quốc mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho loài người. Để hình thành Nước Thiên Chúa này, Đức Giê-su đã kiện toàn Luật Mô-sê khi nhấn mạnh đến khía cạnh tinh thần của việc thờ phượng thay vì chú trọng thờ Chúa ở hình thức bề ngoài, như Người đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem… Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21.23).

Tuy nhiên các lời rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su chỉ được lớp người bình dân đón nhận, đặc biệt là những người thu thuế và những cô gái điếm tội lỗi đi theo Người rất đông… Còn các người lãnh đạo là các Thượng tế, Kinh sư, Biệt phái… lại quyết liệt chống đối vì cho rằng Đức Giê-su đã phá bỏ truyền thống của cha ông. Do đó nhiều lần họ đã dò xét và tranh luận với Đức Giê-su về nhiều vấn đề như: Việc rửa tay trước khi ăn, việc ăn chay, việc chữa bệnh trong ngày hưu lễ Sa-bát, quyền xua đuổi con buôn ra khòi Đền Thờ… Đặc biết họ phẫn nộ khi nghe Đức Giê-su xưng mình là Con Thiên Chúa, gọi Thiên Chúa là Cha và coi mình ngang hàng với Thiên Chúa… Nên cuối cùng họ đã họp nhau quyết định: “Hắn đáng chết !” (Mt 26,59-66). Khi kể dụ ngôn những người tá điền sát nhân này, Đức Giê-su đã cho biết Người sẽ bị các đầu mục dân Do thái giết chết và về số phận của bọn người gian ác này (Mt 21,33-39).

2) Về ý nghĩa của dụ ngôn bọn tá điền sát nhân:

Câu chuyện trong dụ ngôn là một bản tóm lược về ơn cứu độ của Thiên Chúa, trong đó mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa liên quan tới lịch sử cứu độ: Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa, vườn nho là dân Ít-ra-en được Thiên Chúa chọn làm dân riêng của Ngài: Chúa đã thiết lập Giao ước Xi-nai với dân này qua trung gian ông Mô-sê, gọi là Cựu ước. Người đã bảo vệ và hướng dẫn họ như ông chủ vườn nho rào giậu, làm bồn đạp nho và vọng gác. Bọn tá điền sát nhân ám chỉ các nhà lãnh đạo đã đưa dân vào con đường bội nghĩa bất trung. Các đầy tớ của chủ vườn ám chỉ các ngôn sứ đã bị các đầu mục Do thái đối xử tàn tệ. Người con trai của chủ vườn là chính Đức Giê-su cũng sẽ bị họ đóng đinh trên núi Sọ ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Các đầu mục Do Thái tưởng rằng khi giết được Đức Giê-su, họ sẽ nắm được trọn quyền lãnh đạo dân tộc. Nhưng trái lại, họ sẽ bị mất quyền ấy và tòan dân cũng bị vạ lây là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá vào năm 70 sau này. Còn Nước Thiên Chúa sẽ được giao cho một dân khác biết làm phát sinh hoa lợi, đó là Hội Thánh. Hội Thánh được ký giao ước mới với Thiên Chúa nhờ máu Đức Giê-su chịu chết trên thập tự: Người là “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại sẽ trở nên đá tảng góc tường”. Người là Con Thiên Chúa bị dân Do Thái là bọn thợ xây giết hại. Nhưng đến ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại và được “Thiên Chúa siêu tôn và tặng ban Danh hiệu trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu. Để khi vừa nghe Danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (PI 2,10-11).

3) Chúng tôi phải làm gì?

- “HỒNG ÂN THIÊN CHÚA BAO LA”: Thiên Chúa là chủ vườn nho, đã ban cho loài người biết bao hồng ân như thánh Phao-lô đã viết: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7). Chúa trao cho ta một nén vàng và ta có bổn phận phải làm lợi ra gấp năm gấp mười nén khác. Ngài giao cho chúng ta trọn quyền làm chủ vườn nho tượng trưng cho sinh mạng, sức khoẻ, tài năng, phương tiện sinh sống, thời giờ và cả con cái hay những người chúng ta có bổn phận chăm sóc… Sau này chúng ta sẽ phải trả lẽ về phần hoa lợi phải nộp cho Ngài là các việc lành. Vậy chúng ta sẽ nộp cho Chúa phần hoa lợi nào khi ra trước tòa Chúa phán xét ở đời sau?

- TRÁNH THÓI THAM LAM: Sự tham lam là thói thường của con người: “Lòng tham vô đáy” được biểu hiện qua các thái độ: “Được voi đòi tiên”, “Theo đạo lấy gạo mà ăn”, hoặc “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”, “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi, cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ”… Chúa trao trách nhiệm coi sóc vườn nho của Ngài cho ta và chỉ cần ta dâng lại một một phần nhỏ hoa trái làm ra. Thực ra Thiên Chúa không cần những thứ ta dâng, vì Ngài hoàn toàn sung mãn. Nhưng qua hành động dâng tiến đó, ta mới chứng tỏ được lòng mến Chúa và sẽ được Chúa ban thêm nhiều hồng ân, nhất là ơn cứu độ đời đời. Vậy hiện nay tôi đang theo đạo nhằm mục đích gì?

- NƯỚC THIÊN CHÚA SẼ BỊ LẤY ĐI: Câu cuối cùng trong bài Tin Mừng không chỉ là lời Chúa cảnh cáo các thượng tế và đầu mục dân Ít-ra-en, mà cũng là lời cảnh báo mỗi tín hữu chúng ta. Có khi nào Chúa sẽ lấy đi “ơn cứu độ” khỏi tay chúng ta để ban cho anh em lương dân thành tâm thiện chí đón nhận Chúa Giê-su không? Chúng ta sẽ bị Chúa lấy ơn Chúa khi chúng ta “đánh, giết, ném đá” những ngôn sứ là những vị chủ chăn trong Hội Thánh được Chúa sai đến coi sóc hướng dẫn chúng ta. Chúng ta sẽ bị lấy đi ơn cứu độ khi chúng ta cố tình phạm tội trọng, khi chúng ta không cầu xin ơn Thánh Thần đến thánh hóa chúng ta, khi chúng ta không biết làm phát triển nén vàng đức tin được trao cho chúng ta quản lý.

- “ÁC GIẢ ÁC BÁO”: là lời cảnh cáo các tín hữu tham lam, lợi dụng tôn giáo để mưu cầu ích lợi cho bản thân mình. Thiên Chúa luôn tỏ ra kiên nhẫn trước những sự bất trung của con người. Nhưng sẽ đến ngày thái độ kiên nhẫn phải nhường chỗ cho sự xét xử công minh. Đó là giờ chết của mỗi người hay là ngày tận thế chung của toàn nhân loại. Vậy ngay từ bây giờ mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì? Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê cũng là khuyên chúng ta về cách ăn nết ở như sau: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (PI 2,14-15).

4. THẢO LUẬN:

1) “Tất cả đều là hồng ân”. Bạn có đồng ý với câu khẳng định đó không khi bản thân bạn liên tiếp gặp phải những tai nạn rủi ro và những sự trái ý cực lòng? 2) Thiên Chúa có quảng đại không, khi đòi chúng ta phải làm lợi thêm những nén vàng Ngài đã trao cho ta, hay khi Ngài đòi thu phần hoa lợi từ vườn nho tài năng mà Ngài đã trao cho ta trọn quyền sử dụng?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA CHA TỪ ÁI. Mỗi người chúng con đều là những tá điền được Cha trao sứ mệnh canh tác vườn nho của Cha. Vườn nho đó chính là những người thân yêu trong gia đình ruột thịt, là bà con chòm xóm, là xứ đạo, đất nước và Hội Thánh mà chúng con được mời gọi phục vụ.

- Xin cho các tín hữu chúng con biết chiếu sáng đức tin như những vì sao trên trời. Xin cho đức tin của chúng con luôn thể hiện qua đức cậy là lời cầu nguyện phó thác nơi Cha, và đức mến là thái độ khiêm nhường phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ những người nghèo đói bệnh tật hay bị bỏ rơi… Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho chúng con đời này và đời sau.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[Mục Lục]

Bài 20. Dù con người bất trung,Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tiếp theo dụ ngôn “Hai người con”: Người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho (x. Mt 21, 28-32). Đức Giê-su kể cho thượng tế và kỳ lão nghe dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” (x. Mt 21, 33-43). Quả thật, Vườn nho của Chúa là nhà Israel, Thiên Chúa đã tuyển chọn và coi như một vườn nho đặc tuyển được Chúa chăm sóc, bảo vệ, (“Bài ca vườn nho” – Is 5, 1-7) là một bằng chứng : “Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích” (Is 5, 7). Tình yêu của ông chủ với vườn nho, hay cụ thể là mối tình giữa Thiên Chúa với Dân Ngài thật đậm đà, thắm thiết. Thiên Chúa đã không tiếc gì đối với dân : “Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho” nhưng hỡi ôi, “nó lại sinh toàn nho dại” (Is 5, 2).

Điều gì phải đến sẽ đến, ông chủ “sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó” (Is 5, 5-6). Ngụ ý nói : “Thiên Chúa trông mong Israel thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan” (Is 5, 7). Theo lẽ thường, cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng xuống Israel. Nhưng Thiên Chúa “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải” (2 Pr 3, 9). Nên, mới giao vườn nho cho những tá điền chăm sóc (x. Mt 21, 33-43).

Gọi vào làm vườn nho và chăm sóc vườn nho là sáng kiến ​​của Thiên Chúa. Ngài đã chọn dân Israel. Ngài tin tưởng và ban cho dân những điều kiện để sống xứng đáng trong Vương Quốc của Ngài. Ngài gọi dân vào làm vườn nho thể thiện tương quan đặc biệt giữa Ngài với dân. Việc trồng nho lấy quả, ép rượu, theo truyền thống Kinh Thánh là dấu hiệu của niềm vui phồn thịnh.

Thiên Chúa lấy tình yêu mà chăm sóc dân Chúa để nó sinh nhiều trái tốt, là sống công chính hoan lạc trong tình yêu. Cây nho sinh trái, thể hiện tình yêu từ Thiên Chúa xuống với con người, trung thành với lề luật Chúa là đáp lại tình yêu ấy. Yêu thương con người là sáng kiến của Thiên Chúa, vì Ngài đã chủ động yêu thương. Thảm kịch đối với dân được chọn là khước từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, cho dù bao lần Ngài dùng miệng các tiên tri không ngừng mời gọi dân hoán cải, thậm trí sai chính Con của Ngài đến kêu gọi, dân chúng vẫn chọn sự bất trung với Thiên Chúa, ngược đãi với Con Ngài .

Chúa Giêsu lấy lại và tiếp tục lời than của Thiên Chúa trong Isaia (x. Is 5, 1-7). Chính ở đó chúng ta gặp được chìa khóa cho dụ ngôn. Tại sao Thiên Chúa “trồng một vườn nho” và Thiên Chúa đến tìm những “hoa quả “ nào?

Những tá điền không trồng nho và chăm sóc vườn nho vì thương yêu vườn nho, nhưng vì lợi ích riêng của chính mình. Thiên Chúa thì khác. Ngài dựng nên con người và lập giao ước với con người, không phải vì lợi ích cho Thiên Chúa, nhưng vì yêu thương và ích lợi cho con người mà thôi. Những hoa quả được trông đợi từ con người là tình yêu đối Thiên Chúa và sự công bình đối với những kẻ bị áp bức: tất cả là vì con người, chứ không phải cho Thiên Chúa.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel, đồng thời phác họa lịch sử tương quan của Thiên Chúa với toàn thể nhân loại chúng ta. Chúng ta có thể trách cứ dân Israel hay cha ông họ là những tá điền sát nhân, vì chẳng những từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa mà còn giết hại chính Con Một Ngài. Coi chừng câu nói : “Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”(Mt 21,38) lại là của chính chúng ta. Bởi lẽ, ngày hôm nay chúng ta phải nói rằng Chúa Giêsu đã “bị quăng ra ngoài vườn nho,” bị quăng ra ngoài bởi những người xưng mình là Kitô hữu, hay là có khi phản Kitô hữu. Những lời nói của những tá điền vườn nho dội lên không bằng lời thì cũng ít nhất bằng những việc làm trong xã hội tục hóa ngày nay. Nhân loại tục hóa muốn làm người thừa tự, làm ông chủ.

Chúng ta tự hỏi: Tôi đã chuẩn bị thế nào để Chúa Kitô sống trong tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô biên của Chúa dành cho tôi bằng cách nào? Tôi đã tình cờ quăng Người ra ngoài nhà tôi, ngoài sự sống của tôi; nghĩa là tôi đã quên và không biết Chúa Kitô chăng?

Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Tình yêu của Ngài mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Ngài tiếp tục sai chính Con Một Ngài đến trao nộp vì chúng ta để bảo đảm cho tới cùng tình yêu trao ban cứu độ thế gian.

Lịch sử nhân loại được hoàn tất nhờ cái chết trên Thập giá. Nhờ cái chết, Chúa Giêsu đã tiêu diệt sự dữ. Nhờ phục sinh, Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng sức mạnh của tình yêu, Người đã tiêu diệt hận thù. “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc ” (Mt 21, 42), đền thờ Thiên Chúa được phục hồi. Vườn nho trở nên Vương Quốc của Giao Ước Mới, vì Nước Trời không bị phá hủy, từ nay “ Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21, 43).

Ông chủ vườn nho nói : “Chúng sẽ nễ con Ta” (Mt 21, 37). Giờ đây, Cha trên trời sắp sai Con của Người đến với chúng ta trong Bí tích Mình và Máu Người. Ta có hiểu sự cao trọng lúc này không? Ta có sẵn sàng đón tiếp Người với sự sùng kính mà Chúa Cha mong đợi không?

Hôm nay chúng ta đọc lại lịch sử Dân Chúa chọn để lên án sự loại bỏ Đức Kitô do Chúa Cha sai đến. Nhưng cũng ý thức về sự khốn cùng của chúng ta khi loại bỏ “viên đá góc”, lúc chúng ta có ý xây dựng thế giới này theo tiêu chí của chúng ta, tự coi mình là những ông chủ vườn nho của Chúa.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ” (Lời nguyện Nhập lễ). Amen.

 

[Mục Lục]


Trở lại      In      Số lần xem: 1597
Tin tức liên quan
Tin tức mới cập nhật
Video
Trở Lại Đi Con Ơi ! - Ca Đoàn Thánh Gia
Liên kết website
Thống kê
 Trực tuyến :  21
 Hôm nay:  1413
 Hôm qua:  4969
 Tuần trước:  35247
 Tháng trước:  136834
 Tất cả:  4000203

Copyright @ 2013 Giáo Dân Tân Thái Sơn

Mọi ý kiến đóng góp và bài viết xin vui lòng gửi qua Email: Canhtanthaison@gmail.com

Thiết kế bởi webso.vn