Giáo xứ Tân Thái Sơn  - Giáo Hạt Tân Sơn Nhì - Giáo Phận Sài Gòn - LM chính xứ: Phêrô Nguyễn Quốc Tuý - LM Phó xứ: Giuse Nguyễn Hoàng Thanh - "KHÔNG CÓ TÌNH THƯƠNG NÀO CAO CẢ HƠN TÌNH THƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ HY SINH TÍNH MẠNG VÌ BẠN HỮU CỦA MÌNH." (Ga:15,13) - Quản Trị Trang web: Giuse Trần Đình Cánh

Ave Ma-ri-a - "Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa." (Lc 11, 28)

Bộ Giáo Luật: Quyển VII - Tố Tụng - Điều 1649 - 1706

Bộ Giáo Luật: Quyển VII - Tố Tụng - Điều 1649 - 1706

Quyển VII. Tố Tụng điều 1649 - 1706

ĐỀ MỤC 10: ÁN PHÍ VÀ BẢO TRỢ ÁN PHÍ

Điều 1649

#1. việc điều hành tòa án thuộc về Giám Mục, ngài phải ấn định các quy tắc liên quan đến;

10 việc buộc các bên phải thanh toán hoặc bồi hoàn các án phí;

0Thù lao cho các người đại diện, các luật sư,các giám định viên và các thông dịch viên, cũng như việc bồi thường phí tổn cho các nhân chứng;

30 Việc cấp bảo trợ miễn phí hay giảm án phí;

40  Việc buộc người không những thất kiện mà còn kiện tụng bừa bãi phải đền bù những thiệt hại.

50 Tiền ký quỹ hay tiền bảo chứng phải nộp để trả các án phi1va2 đền bù thiệt hại.

#2. Không được kháng cáo riêng biệt chống lại quyết định về án phí, về thù lao và về đền bù thiệt hại ; tuy nhiên, trong vòng mười lăm ngày, một bên có thể  nại đến chính vị thẩm phán, vị này có thể thay đổi  giá biểu phải trả.

ĐỀ MỤC 11: THI HÀNH BẢN ÁN

Điều 1650

#1Một  bản án đã trở thành vấn đề quyết tụngcó thể được   thi hành,miễn là vẫn giữ nguyên những quy định  của điều 1647.

#2. Thẩm phán đã ban hành  bản án và, nếu có kháng án, cả thẩm phán toà kháng cáo có thể chiếu theo chức vụ hoặc do lời thỉnh cầu của một bên, ra lệnh thi hành tạm thời một bản án chưa trơ û thành vấn đề quyết tụng, miễn là thiết lập những bảo chứng thích hợp, nếu xét thấy cần thiết, trong trường hợp vvấn đề có liên quan đến tiền bảochứng hay tiền cấp dưỡngbảo đảm cho việc sinh sống cần thiết, hoặc vì một lý do chính đáng nào khác.

#3. Nếu bản án nói ở #2 bị chống đối, thẩm phán nào có nhiệm vụ cu xét việc chống đối ấy, khi thấy việc kháng án  có cơ sở hữu lý  và việc thi hành bản án  có nguy cơ gây ra một sự thiệt hại không thể sửa chữa được, thì có thể đình hoãn chính việc thi hành hoặc cho thi hành bản án với điều kiện nộp một khoản tiền bảo chứng .

Điều 1651

Không thể thi hành bản án trướckhi thẩm phán ra một sắc lệnh có hiệu lực truyền phải thi hành bản án ; tùy theo bản chất khác nhu  của các vụ án, sắc lệnh này đựơc bao gồm tong chính bản án hoặc được ban hành riêng.

Điều 1652

Nếu việc thi hành bản án buộc phải xuất trình sổ sách tước, thì một vấn đề phụ được đặt ra, và phải được giải  quyết do chính thẩm phán đã ban hành bản án với lệnh phải thi hành.

Điều 1653

#1. Trừ khi luật địa phương ấn định  cách khác, Giám Mục giáo phận tại nơi đã ban hành  bản án cấp một  phải đích thân ra lệnh  thi hành bản án hoặc phải nhờ một người khác.

#2. Nếu Giám Mục giáo phận từ chối hay lơ là do sự yêu cầu của bên có liên quan hoặc chiếu theo chức vụ, thì việ ra lệnh thi hành bản án thuộc về  nhà chức trách mà toà kháng cáo lệ thuộc, chiếu theo quy tắc của điều 1439 #3.

#3. Đối với các tu sĩ, Bề Trên nào đã ban hành bản án buộc phải thi hành, hoặc đã uỷ quyền cho thẩm phán, thì có bổn phận ra lệnh thi hành bản án.

Điều 1654

#1. Người thi hành phải bảo đảm rằng chính bản án sẽ được thi hành sát nghĩa của từ ngữ, trừ khi chính nội dung  của bản án cho phép người ấy được tự do định đoạt phần nào.

#2. người thi hành án có quyền cứu xét những khước biện liên quan đến cách thức và hiệu lực của việc thi hành, nhưng không có quyền cứu xét lý lẽ phải trái của vụ án; vả lại, nếu người ấy biết rằng bản án vô hiệu hay bất công tỏ tường  chiếu theo quy tắc của các điều 1620,1622,1645, thì được miễn thi hành và phải trao sự việc lại cho toà đã ban hành bản án, sau khi đã thông báo cho các bên biết.

Điều 1655

#1. Về phương diện tố quyền đối vật, mỗi khi một đồ vật đã được xét xử và thuộ về  nguyên cáo, đồ vật ấy phải được trao cho nguyên cáo ngay sau khi xảy ra vấn đề quyết tụng.

#2. Về phương diện tố quyền đối nhân, khi bị cáo đã bị buộc phải trao một động sản, phải trả một món tiền phải cho hay phải làmmột việc gì khác, thì thẩm phán trong chính bản án, hoặc người thi hành, theo sự  định đoạt tự do  và theo sự khôn ngoan của mình, phải ấn định một hạn kỳ để chu toàn nghĩa vụ, nhưng hạn kỳ này không được dưới  mười lăm ngày và không 9ược quá sáu tháng.

THIÊN 2: XỬ ÁN HỘ SỰ KHẨU BIỆN

Điều 1656

#1. Tất cả các vụ án mà luật không loại trừ có thể được xét xử theo thủ tục xử án  hộ ự khẩu biện được nói đến trong thiên này, trừ khi  có một bên yêu cầu phải xét xử theo thủ tục xử án hộ sự thông thường.

#2. Nếu thủ tục xử án hộ sự khẩu biện được sử dụng ngoài  những trường hợp mà luật cho phép, thì những án từ tư pháp sẽ bị vô hiệu.

Điều 1657

Việc xử án hộ sự khẩu hiệu 9ược thực hiện ở cấp một trước mặt một thẩm phán duy nhất, chiếu theo quy tắc ủa điều 1424.

Điều 1658

#1. Ngoài những điểm được nêu ra ở điều 1504,đơn khởi tố phải;

10 trình bày vắn tắt, đầy đủ và rõ ràng những sự kiện mà nguyên cáo dựa vào đó để thỉnh cầu;

20 trình bày thế nào để thẩm phán có thể thu nhập được ngay những chứng cớ mà nguyên cáo chú ý dùng để chứng minh các ự kiện, nhưng không thể 9ưa ra cùng một lúc được.

#2.Phải đính kèm theo đơn những tài liệu làm nền tảng cho việc thỉnh cầu, ít ra là bản sao có công chứng .

Điều 1659

#1. Nếu iệ ố gắng hoà giải chiếu theo quy tắc của 9iều 1446 #2 đã thát bại, và nếu nhận thấy đơn khởi tố  có một vài nền tảng, thì trong vòng ba ngày, bằng một quyết định phê ở dưới đơn, thẩm phán phải ra lệnh thông báo  cho bị cáo biết bản sao của đơn thỉnh cầu, và cho phép bị cáo gửi đến văn phòng toà án một bản phúc đáp, trong vòng mười lăm ngày.

#2. Việc thông báo này có hiệu lực như việ triệu tập ra toà được nói đến ở điều 1512.

Điều 1660

 Nếu những khước biện của bị cáo đòi hỏi, thẩm phán phải ấn định cho nguyên cáo một thời hạn để trả lời nhằm thấy rõ đối tượng  của việc tranh tụng nhờ các yếu do mỗi bên đưa ra.

Điều 1661

#1. Một khi các thời hạn được nói đến ở điều 1659 và 1660 đã mãn, và sau khi đã nghiên cứu các án từ, thẩm phán phải xác định thể thức nghi vấn; sau đó phải triệu tập tất cả những người có liên hệ ra toà, để họp trong vòng không quá ba mươi ngày; thể thc nghi vấn phải đượ đính kèm theo lệnh triệu tập các bên.

#2. Trong giấy triệu tập, phải thông báo cho các bên biết, ít nhất là ba ngày trước khi họp phiên toà, là họ có thể trình toà một bản báo cáo vắn tắt để chứng minh  những điều mà họ quả quyết.

Điều 1662

Trong phiên toà, trước hết bàn đến những vấn đề được nói đến ở những điều 1459-1464.

Điều 1663

#1. Phải thu nhập những chứng cớ trong phiên họp, miễn là vẫn giữnguyên những quy định của điều 1418.

#2 Một đương sự và luật sư của mình có thể tham dự cuộc cuộc thẩm vấn những giám định viên.

Điều 1664

Một công chứng viên phải ghi vào biên bản những câu trả lời của các bên, của các nhân chứng, của cá giám định viên, những lời thỉnh cầu à khước biện của các luật sư, nhưng cần phải ghi cách sơ lược và chỉ ghi những điều liên quan đến nội dung của vụ tranh tụng mà thôi, biên bản này phải được những người cung khai ký vào.

Điều 1665

 Những chứng cớ đã không được nêu ra  hoặc đã không được hỏi 9ến trong đơn thỉnh nguyện hay trong các câu trả lời, chỉ có thể được thẩm phán chấp nhận chiếu theo  quy tắc của điều 1452; tuy nhiên, sau khi đã nghe dù chỉ một nhân chứng, thẩm phán chỉ có thể quyết định đòi thêm những cớ mới, chiếu theo quy tắc của điều 1600.

Điều 1666

Nếu không thể thu thập được tất cả mọi chứng cớ trong phiên họp, thì phải ấn định một phiên họp khác.

Điều 1667

Khi đã thu nhập những chứng cớ xong, thì cuộc tranh luận khẩu biện sẽđược diễn ra trong cùng một phiên họp.

Điều 1668

#1. Nếu cuộc tranh luận cho thấy là không nhất thiết phải bổ túc việc thẩm cứu vụ ánhoặc không có điều gì ngăn trở việc tuyên án đúng đắn, thì thẩm phán phải lập tức giải quyết vụ án một mình, sau khi đã kết thúc phiên họp; phần chủ văn của bản  án phải đượ đọc ngay trước mặt các bên.

#2.Tuy nhiên,vì vấn đề khó khăn hay vì một lý do chính đáng khác, toà án có thể hoãn lại việc quyết định cho đến ngày hữu dụng thứ năm.

#3. Nguyên văn bản án, kể cả các lý do được viện dẫn, bình thường phải được thông báo cho các bên biết càng sớm càng tốt, và không quá mười lăm ngày.

Điều 1669

Nếu xét thấy thủ tụ xử án hộ sự khẩu biện 9ã được áp dụng ở toà án cấp dưới trong những trường hợp bị luật loại trừ, thì toà kháng cáo phải tuyên bố bản án vô hiệu và phải gửi trảvụ án lại cho toà đã ban hành bản án.

Điều 1670

Về những vấn đề khác liên quan đến cách thức tiến hành, phải giữ những quy định của những điều liên quan đến các việ xử án hộ ự thông thường. Tuy nhiên, bằng một sắc lệnh  có viện dẫn lý do, toà 1n có thể sửa đổitố tụng không cần thiết cho sự hữu hiệu, để vấn đề được giải quyết nhanh chóng, miễn là vẫn tôn trọng công lý.

PHẦN III: VÀI VỤ TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT

ĐỀ MỤC 1: TỐ TỤNG HÔN NHÂN

CHƯƠNG 1: NHỮNG VỤ ÁN TUYÊN BỐ HÔN NHÂN BẤT THÀNH

TIẾT 1: TOÀ ÁN CÓ THẨM QUYỀN

Điều 1671

Do luật riêng, các vụ án hôn nhân của những người đã được rửa tội, thuộc quyền thẩm phán Giáo Hội.

Điều 1672

Các vụ án liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hông nhân thuộc thẩm quyền thẩm phán dân sự, trừ khi luật địa phương ấn định  rằng thẩm phán Giáo Hội có thể cứu xét và giải quyết  chính các vụ án đó, nếu các vụ  các vụ án ấy được giải quyết như là vấn đề phụ và tùy tòng.

Điều 1673

Đối với những vụ án về tính bất thành của hôn nhân mà Tông Tòa không dành riêng cho mình, thì tòa án có thẩm quyền là;

10 tòa án nơi hôn nhân đã được cử hành;

20 toà án tại nơi bị cáo có cư sở hay bán cư sở;

30 tòa án tại nơi nguyên cáo có cư sở, miễn là cả hai bên đều cư ngụ trong địa hạt của cùng một Hội Đồng Giám Mục, và mi64n là có sự đồng ý của vị Đại Diện tư pháp tại nơi bị cáo có cư sở, sau khi bị cáo đã được hỏi ý kiến;

40 tòa án tại nơi mà trong thực tế đã thu thập được mà hầu hết cá chứng cớ, miễn là có sự đồng ý của vị Đại Diện tư pháp tại nơi bị  cáo có cư sở, sau khi đã hỏi  bị cáo có khước biện hay không .

TIẾT 2: QUYỀN KHÁNG NGHỊ HÔN NHÂN

Điều 1674

Những người có năng cách kháng nghị hôn nhân là:

10 những người phối ngẫu;

20 công tố viên, khi  sự bất thành của hôn nhân đã trở thành công khai, nếu không thể thành sự hóa, hoặc không có lợi nếu thành sự hóa.

Điều 1675

#1. Hôn nhân nào đã không bị tố cáo  khi hai người phối ngẫu còn sống, thì cũng không thể bị tố cáo khi một trong hay cả hai đã chết, trừ khi vấn đề thành sự của hôn nhân là vấn đề  tiên quyết để giải quyết một cuộc tranh tụng khác hoặc ở tòa án Giáo Hội hoặc ở tòa án dân sự.

#2. Nhưng nếu một người phối ngẫu chết trong khi vụ án chưa ngã ngũ, thì phải giữ điều 1518.

TIẾT 3:  NHIỆM VỤ THẨM PHÁN

Điều 1676

Trước khi nhận xử một vụ án và mỗi khi có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương tiện mục vụ để khuyên nhủ hai người phối ngẫu nên thành sự hóa hôn nhân và nên tái lập đời sống chung vợ chồng, nếu có thể được.

Điều 1677

#1. Khi đã nhận đơn, chánh án hay báo cáo viên phải thông báo sắc lệnh triệu tập ra tòa chiếu theo quy tắc của điều 1508.

#2. Quá thời hạn mười lăm ngày kể từ khi thông báo, trừ khi một bên yew6u cầu mở một phiên tòa để đối tụng, chánh án hay báo cáo viên phải ra sắc lệnh ấn định thể thức nghi vấn hoặc những nghi vấn trong thời hạn mười ngày chiếu theo chức vụ,và phải thông báo cho các bên biết sắc lệnh này.

#3. Việc ấn định thể thức nghi vấn không những phải đặt vấn đề xem hôn nhân có chắc chắn bất thành không trong trường hợp này hay không, mà còn phải xác  định xem hôn nhân thành sự đã bị kháng nghị vì lý do nào hoặc vì những lý do nào.

#4. Sau mười ngày kể từ khi thông báo sắc lệnh đó, nếu các bên hko6ng phản đối gì, chánh án hay báo cáo viên phải ra một sắc lệnh mới để quyết định thẩm cứu vụ án.

TIẾT 4: NHỮNG CHỨNG CỚ

Điều 1678

#1. bảo vệ viên, các luật sư của các bên  và cả công tố viên, nếu vị này tham gia tố tụng, đều;

10 có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các giám định viên, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1559;

20 xem các án từ tư pháp, ngay cả khi những án từ đó chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp.

#2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn được nói đến ở #1,10.

Điều 1679

Trừ khi những chứng cớ có đầy đủ giá trị thuyết phục từ nguồn khác, để đánh giá những lời khai của các bên, chiếu theo quy tắc của điều 1536, thẩm phán phải nại đến những nhân chứng, nếu có thể được, để xem chính các bên có đáng tin hay không, ngoài những dấu hiệu và những yếu tố có tính thuyết phục khác.

Điều 1680

Trong những vụ án về sự bất lực hay về sự thiếu ưng thuận do bệnh tâm thần, thẩm phán phải nhờ đến ự giúp đỡ của một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ là việc giám định không cần thiết; còn trong những vụ án khác phải giữ những quy định của điều 1574.

 TIẾT 5: BẢN ÁN VÀ KHÁNG CÁO

Điều 1681

Mỗi khi thẩm cứu vụ án mà thấy có một nghi vấn rất hữu lý về hôn nhân bất hòa hợp, tòa án có thể đình hoãn vụ án về hôn nhân bất thành, với sư đồng ý của các bên, bổ túc việc thẩm cứu để xin miễn chuẩn hôn nhân thành nhận, và sau đó chuyển những án từ đến Tông Tòa, kèm theo đơn xin chuẩn của một hay của hai người phối ngẫu, cùng với ý kiến của tòa án và của Giám Mục.

Điều 1682

#1.Bản án đã tuyên bố trước tiên là hôn nhân không thành, những đơn kháng cáo, nếu có, cũng như những án từ kháng, phải được chuyển lên tòa kháng cáo, chiếu theo chức vụ, trong vòng hai mươi ngày kể từ khi công bố bản án.

#2.Nếu một bản tuyên bố là hôn nhân không thành được công bố tòa án cấp một, thì tòa kháng cáo phải nghiên cứu những nhận xét của bảo vệ viên và của các bên nếu có, và phải ra một sắc lệnh hoặc để xác nhận ngay quyết định hoặc để nghiên cứu vụ án theo cách thông thường ở cấp bậc mới.

Điều 1683

Nếu cấp kháng cáo người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân không thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó ở cấp một và xét xử như ở tòa cấp một.

Điều 1684

#1. Sau khi bản án tuyên bố là hôn nhân bất  thành được xác nh65n ở cấp kháng ca1oba82ng một sắc lệnh hay bằng một bản án thứ nhì, thì những người mà hôn nhân của họ đượ c bố  là bất thành có thể tái hôn ngay sau khi sắc lệnh hay bản án thứ hai được thông báo cho họ biết, trừ khi lệnh  cấm tái hôn được kèm theo bản án hay sắc lệnh, hoặc trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương ra lệnh cấm tái hôn.

#2.Phải giữ những quy định của điều 1644, ngay cả khi bản án tuyên bố là hôn nhân không thành đã được xác nhận, không phải bằng một bản án thứ nhì, nhưng bằng một sắc lệnh.

Điều 1685

Ngay sau khi bản án có hiệu lực để đượcthi hành vị Đại Di65n  tư pháp phải thông báo bản án đó cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi hôn nhân đã đượ cử hành. Vị này phải quan tâm ghi chú việc công bố hôn nhân không thành và những lệnh cấm kèm theo, nếu có, vào sổ hôn phối và sổ rửa tội, sớm hết sức có thể.

TIẾT 6: TỐ TỤNG DỰA TRÊN TÀI LIỆU

Điều 1686

Sau khi đã nhận một đơnthỉnh cầu chiếu theo quy tắc của điều 1677, vị Đại Diện tư pháp hay thẩm phán do ngài chỉ định, có thể tuyên bố hôn nhân bất thành bằng một bản án, nếu có một tài liệu không thể bị phản đối hay khước biện chứng minh rằng chắc chắn có một ngăn trở tiêu hôn  hay thiếu hình thức hợp lệ, miễn là tài liệu này phải hiển nhiên và phải xác tín rằng ngăn trở đã không được miễn  chuẩn hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu.

Trong những vụ án này, những thể thức pháp lý của một vụ án thông thường được bỏ qua, trừ việc triệu tập các bên ra tòa và sự can thiệp của bảo vệ viên.

Điều 1687

#1. Nếu bảo vệ viên nhận định cách khôn ngoan rằng những hà tỳ được nói đến ở điều 1686 hoặc việc thiếu phép chuẩn là điều không chắc chắn, thì phải kháng án lên thẩm phán tòa án cấp  hai để chống lại lời tuyên bố đó.Các án từ phải được chuyển lên thẩm phán tòa án cấp hai, và thông báo bằng văn bản cho vị này biết đó là một vụ tố tụng dựa trên tài liệu.

#2. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt, thì bên đó có toàn quyền kháng cáo.

Điều 1688

Với sự can thiệp của bảo hệ viên và sau khi nghe các bên, thẩm phán tòa án cấp hai phải quyết định cùng một cách thức nói ở điều 1686, xem có phải xác nhận bản án hay không hoặc có phải giải quyết vụ án theo cách thông thường của luật hay không; trong trường hợp này, thẩm phán gửi vụ án về tòa án cấp một.

TIẾT 7: NHỮNG QUY TẮC TỔNG QUÁT

Điều 1689

Trong bản án, phải nhắc nhở cho các bên biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự mà bên  này phải có đối với bên kia và đối với con cái họ trong việc cấp dưỡng và giáo dục.

Điều 1690

Không thể áp dụng việc xử án hộ sự khẩu biện cho những vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành.

Điều 1691

Trong những vấn đề khác liên quan đến thủ tục, phải áp dụng những điều luật về những điều luật về những việc xử án nói chung và về xử án hộ sự thông thường, trừ khi bản chất sự  việc không cho phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy tắc đặc biệt liên quan đến những vụ án về tình trạng nhân thân và những vụ  án có dính dáng tới công ích.

CHƯƠNG 2: CÁC VỤ ÁN VỢ CHỒNG LY THÂN

Điều  1692

#1.Trừ khi luật đã dự liệu cách khác cho các địa phương một hợp pháp, việc ly thân giữa vợ chồng đã được rửa tội có thể được giải quyết bằng một sắc lệnh  của Giám Mục giáo phận hoặc bằng mộ bản án của thẩm phán, chiếu theo quy tắc của những điều khoản sau đây.

#2. ở nơi nào mà quyết định của nhà chức trách Giáo Hội không có hiệu lực dân sự, hoặc nếu thấy bản án sự không nghịch với luật Thiên Chúa, thì Giám Mục giáo phận tại nơi cư trú của hai vợ chồng có thể cho phép họ nại đến tòa án dân sự, sau khi đã cân nhắc những hoàn cảnh riêng biệt.

#3. Nếu vụ án cũng liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân, thẩm phán phải liệu sao cho vụ án được chuyển sang tòa án dân sự ngay từ đầu, miễn là vẫn giữ những quy định của #2.

Điều 1693

#1. Phải áp dụng cách xử án hộ sự khẩu biện, trừ khi một bên hay công tố viên yêu cầu áp dụng việc xử án hộ sự thông thường.

#2.Nếu đã áp dụng cách xử án hộ sự thông thường và nếu có kháng án, thì tòa án cấp hai phải tiến hành chiếu theo quy tắc của điều 1682 #2, miễn là vẫn giữ nguyên những gì luật định.

Điều 1694

 Phải giữ những quy định của điều 1673 trong những điều liên quan đến thẩm quyền của tòa án.

Điều 1695

Trước khi nhận xử một vụ án và mỗi khi có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương thế mang tính cách mục vụ để hòa giải các người phối ngẫu và để khuyên nhủ họ tái lập đời sống chung vợ chồng.

Điều 1696

Các vụ án vợ chồng ly thân cũng liên quan đến công ích; vì thế, công tố viên luôn luôn phải can thiệp, chiếu theo quy tắc của điều 1433.

CHƯƠNG 3: TỐ TỤNG ĐỂ MIỄN CHUẨN HÔN NHÂN THÀNH NHẬN VÀ BẤT HÒA HỢP

Điều 1697

 Chỉ hai vợ chồng  hoa85cmo65t trong hai, mặc dầu người kia không muốn, mới có quyền xin phép chuẩn hôn nhân thành nhận và bất hòa hợp.

Điều 1698

#1. chỉ một mình Tông Tòa xét xử sự kiện bất hòa hợp của hôn nhân và sự hiện hữu của một lý do chính đáng để ban phép chuẩn.

#2.Chỉ một mình Đức Giáo Hoàng Rôma ban phép chuẩn.

Điều 1699

#1. Giám Mục giáo phận tại nơi đương sự có cư sở hay bán cư sở có thẩm quyền nhận đơn xin phép chuẩn và ra lệnh tiến hành thẩm cứu vụ án, nếu xét thấy đơn thỉnh nguyện có cơ sở.

#2. Tuy nhiên,nếu trường hợp đề ra có những khó khăn đặc biệt thuộc lĩnh vực pháp lý hay luân lý, Giám Mục giáo phận phải xin ý kiến Tông Tòa.

#3.Nếu Giám mục ra sắc lệnh bác đơn thỉnh nguyện, thì có thể kháng án lên Tông Tòa để chống lại sắc lệnh này.

Điều 1700

#1. Giám Mục phải trao việc thẩm cứu những vụ án cho tòa án giáo phận mình, hoặc cho tòa án giáo phận khác, hoặc cho một tư tế có khả năng, cách thường xuyên hay cho từng trường hợp một, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1681.

#2. Nhưng nếu đã nộp một lá đơn có tính cách pháp lý để xin tòa tuyên bố là chính hôn nhân đó bất thành, thì việc thẩm cứu phải được trao cho cùng một tòa án.

Điều 1701

#1. Bảo vệ viên luôn phải can thiệp vào cá vụ này:

#2. Không chấp nhận có luật sư, nhưng Giám Mục có thể cho phép nguyên cáo hay bị cáo nhờ một chuyên viên luật giúp đỡ trong trường hợp khó khăn.

Điều 1702

Trong khi thẩm cứu phải nghe cả hai người phối ngẫu và trong múc độ có thể, phải giữ các điều luật liên quan đến việc thu thập chứng cớ trong vụ án hộ sự thông thường và trong những vụ án hôn nhân bất thành, miễn là những điều luật đó có thể thích nghi với bản chất của các vụ án này.

Điều 1703

#1. Các án từ không được công bố; tuy nhiên, nếu thẩm phán thấy có một rở ngại nghiêm trọng cho lời thỉnh cầu của  nguyên cáo hay cho lời khước biện của bị cáo, vì những chứng cớ viện dẫn, thì thẩm phán phải khôn ngoan báo cho đương sự liên hệ biết.

#2. thẩm phán có thể chỉ cho đương sự nào yêu cầu xem một tài liệu đã được đệ nạp hay một chứng cớ đã được thu thập và ấn định một  thời hạn để đương sự ấy đưa ra những nhận định.

Điều 1704

#1. Sau khi đã thẩm cứu, người thẩm cứu phải chuyển tất cả mọi án từ cùng với một bản tường trình thích hợp cho Giám Mục, Giám Mục phải soạn thảo ý kiến của mình dựa trên sự thật của sự kiện hôn nhân bất hòa hợp, cũng như lý do chính đáng để miễn chuẩn, và sư thích hợp của phép chuẩn.

#2.Nếu việc thẩm cứu đã trao cho một tòa  án khác chiếu theo quy tắc của điều 1700, thì những lời nhận xét bênh vực dây hôn nhân phải do cùng một tòa soạn thảo, nhưng ý kiến được nói đến ở #1 thuộc về Giám Mục đã ủy quyền, và người thẩm cứu phải trao cho ngài một bản tường trình thích hợp cùng với những  án từ.

Điều 1705

#1. Giám Mục phải chuyển lên Tông Tòa tất cả các án từ cùng với ý kiến của mình và  những nhận xét của bảo hệ viên.

#2. Nếu xét thấy cần phải bổ túc việc thẩm cứu, thì Tông Tòa sẽ thông báo cho Giám Mục biết điều ấy và sẽ chỉ rõ những điểm cần phải thẩm cứu thêm.

#3. Nếu Tông Tòa phúc đáp bằng sự kiện hôn nhân bất hòa hợp không được xác định qua những tài lệu được viện dẫn, thì chuyên viên luật được nói đến ở điều 1701#2, có thể tham khảo những án của vụ án ở tòa, ngoại trừ ý kiến của Giám Mục, để nhận định xem có thể thêm một điều gì hệ trọng hay không, hầu đệ nạp đơn thỉnh cầu mới.

Điều 1706

Phúc chiếu ban phép chuẩn được Tông Tòa chuyển đến Giám Mục; vị này phải thông báo cho các bên biết phúc chiếu đó, ngoài ra ngài phải truyền lệnh  cho cha sở tại nơi cử hành hôn nhân, cũng như cho cha sở tại nơi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, càng sớm càng tốt.

 


Trở lại      In      Số lần xem: 1467
Tin tức liên quan
Tin tức mới cập nhật
Video
Trở Lại Đi Con Ơi ! - Ca Đoàn Thánh Gia
Liên kết website
Thống kê
 Trực tuyến :  19
 Hôm nay:  3117
 Hôm qua:  4035
 Tuần trước:  27255
 Tháng trước:  101008
 Tất cả:  3366038

Copyright @ 2013 Giáo Dân Tân Thái Sơn

Mọi ý kiến đóng góp và bài viết xin vui lòng gửi qua Email: Canhtanthaison@gmail.com

Thiết kế bởi webso.vn